Phóng viên Báo Quân đội nhân dân (QĐND) luôn sẵn sàng. Bom đánh ở đâu trong phạm vi vài chục cây số, xe đạp có thể phóng tới là tới ngay để có bài và ảnh in ngay trong số báo sau. Báo QĐND từng tổ chức các tốp phóng viên treo đèn bão nhỏ ở ghi-đông xe đạp, đi từ Vĩnh Linh ra Hà Nội, thấy trận địa nào vừa chiến đấu là rẽ vào lấy thông tin viết ngay, rồi gửi nhờ xe ô tô vận tải chuyển ra Hà Nội. Bấy giờ Báo tổ chức rất linh hoạt, vừa có phóng viên thường trú ở các quân khu, vừa có các tổ phóng viên tác nghiệp trên khắp 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia.

Quân khu 6 là chiến trường gian khổ, lọt vào giữa vùng 4 phía là địch, nhiều năm không có phóng viên Báo QĐND ở đây. Thời khó khăn của Quân khu 6 là Tư lệnh Mặt trận được phát một gùi thóc. Liên lạc, công vụ của Tư lệnh phải mang gùi thóc lên trại tăng gia tự mở đất để gieo gùi thóc, rồi chăm sóc rẫy lúa mình gieo để lấy thóc ăn, giữ lại một gùi để gieo mùa sau.

Đoàn phóng viên Báo Quân đội nhân dân trên đường vào Nam, tháng 1-1975. Ảnh tư liệu           

Tổ phóng viên của tôi, Anh Ngọc và Trần Hữu Tòng chui qua Đường 20 để vào Quân khu 6. Phải hai đêm, chúng tôi mới qua được đường vì địch tuần tra. Qua đường đâu phải dễ dàng, mặc dù đoạn đường cần qua chỉ vài chục mét. Qua bên kia đường rồi thì yên tâm. Làm báo ở chiến trường muôn hình, muôn vẻ. Khi gặp đơn vị vừa đánh thắng xong, có vô số thông tin để viết. Khi gặp đơn vị dài ngày chưa có trận đánh nào thì lại có ít thông tin để viết. Vì thế nhà báo lại phải đến đơn vị khác.  

Niềm vui làm báo chiến trường là đến đơn vị nào họ cũng coi mình như người nhà, không khách khí gì, có gì ăn nấy, chan hòa như bạn bè từ lâu. Đi Quân khu 6, tôi được dẫn xuống Tiểu đoàn 2. Đây là tiểu đoàn duy nhất của Quân khu 6, còn lại là các đơn vị nhỏ lẻ. Tiểu đoàn 2 đánh Chi khu quân sự Hoài Đức. Đó là chi khu cấp huyện, đánh không khó khăn gì, trinh sát dẫn bộ đội xung phong một lần, bắt tù binh rồi làm chủ căn cứ. Đánh xong, đơn vị nhận lệnh hành quân lên Đà Lạt.

Tôi đến Đà Lạt chừng 9 giờ. Từ hôm trước, các đơn vị địch ở Đà Lạt đã chạy khỏi thành phố. Thành phố bỏ trống, vì thế cướp nổi lên, chúng bắn nhau như đánh trận. Ngồi trên xe, bộ đội ta cầm mũ cối vẫy vẫy, hô vang chủ lực đã về. Tiếng súng của bọn cướp im ngay. Thành phố trở lại yên bình. Đưa đón chúng tôi là các anh đeo súng có dải vải màu nâu cuốn vào đầu nòng, để phân biệt đấy là súng của du kích. Họ đưa tôi đến một cuộc mít tinh có đến hàng nghìn người tham dự, giới thiệu tôi lên nói chuyện với bà con. Tôi chỉ nói vài lời, rằng thành phố đã giải phóng; bộ đội chủ lực đã về canh giữ thành phố; mọi người nên trở về nhà mình, sinh hoạt bình thường.

Một chiều, khi nghe Phan Thiết đã giải phóng, tôi quyết định tự đi đến đó, đi nhờ xe tải. Phải hai ngày đi nhờ xe, tôi mới đến được Phan Thiết. Ở sân bay Phan Thiết, tôi gặp lại phóng viên Anh Ngọc. Hai người bàn với nhau, phải đi Sài Gòn. Ra sân bay Phan Thiết nằm chờ, chúng tôi đón được xe đi Sài Gòn. Đến đây, tôi bàn với Anh Ngọc, đã đến Sài Gòn là phải đến dinh Độc Lập. Không ngờ đến đây gặp khá nhiều anh em phóng viên Báo QĐND. Gặp Mạnh Hùng đầu tiên. Mạnh Hùng bảo đang ở nhờ doanh trại của Bộ đội Hải quân, kéo chúng tôi về đó ở cùng. Bấy giờ Báo QĐND chưa có cơ quan thường trú, chúng tôi đi với đơn vị nào thì ở nhờ đơn vị đó. Ở với Bộ đội Hải quân nên tôi có điều kiện theo tàu ra một số đảo. Đến đảo Thổ Chu, chúng tôi biết mình đã đến muộn. Quân Khmer đỏ mới tràn qua đây, bắt hơn 500 người của đảo ném xuống biển, kể cả trẻ con và đàn bà vô tội. Ngày nay, người dân trên đảo Thổ Chu đã xây dựng đền thờ để làm nơi hương khói cho các liệt sĩ đã hy sinh khi giải phóng đảo Thổ Chu và hơn 500 người dân vô tội bị kẻ thù sát hại dã man...

Suốt những năm chiến tranh, tôi được đi làm báo cả ở chiến trường Việt Nam, Lào và Campuchia. Đến nước bạn, tuy khác nhau về ngôn ngữ nhưng lòng người thì như một. Các cán bộ, chiến sĩ quân đội Lào và quân đội Campuchia đều quý phóng viên Quân đội Việt Nam. Họ không giấu điều gì, phóng viên cần đi đâu, họ vui vẻ đưa đến đó và chăm sóc chu đáo.