Đó hoàn toàn là sự ngộ nhận. Vệt bài này nhằm chỉ rõ bản chất bóc lột của CNTB số, những vấn đề đặt ra với Việt Nam trong tận dụng xu hướng công nghệ để phát triển đất nước, đồng thời bảo vệ được chủ quyền quốc gia, bảo vệ các giá trị văn hóa, tư tưởng, bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp và người lao động.   

Chủ nghĩa tư bản số là gì?

Khái niệm CNTB số ra đời nhằm phản ánh giai đoạn phát triển mới của kinh tế chính trị tư bản chủ nghĩa, nơi công nghệ thông tin, hạ tầng mạng, dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI) trở thành lực lượng sản xuất trung tâm. Các học giả trên thế giới cũng đã có những định nghĩa về khái niệm CNTB số. Ví dụ như, theo Dan Schiller (năm 1999) thì “CNTB số là giai đoạn tái cấu trúc quy mô toàn cầu của hệ thống kinh tế thị trường, trong đó internet và công nghệ viễn thông trở thành cơ sở hạ tầng kỹ thuật trung tâm cho mọi hoạt động kinh doanh, thương mại và tích lũy tư bản”. Theo Christian Fuchs, CNTB số là một chiều cạnh hiện đại của CNTB, ở đó quá trình tích lũy tư bản, phân công lao động, quyền lực chính trị và văn hóa được trung gian hóa sâu sắc bởi truyền thông kỹ thuật số và các nền tảng mạng xã hội. Fuchs vận dụng triệt để lý luận kinh tế chính trị Mác-xít để khẳng định bản chất của CNTB số vẫn là bóc lột giá trị thặng dư, nhưng hình thức bóc lột đã mở rộng ra ngoài phạm vi nhà máy truyền thống. Theo Jonathan Pace (năm 2018), khái niệm CNTB số tái cấu trúc mối quan hệ giữa phương tiện truyền thông số và hệ thống kinh tế tư bản. Nó vừa tiếp nối các quy luật cốt lõi của tư bản (hàng hóa hóa, tích tụ và bóc lột), vừa tạo ra những hình thái không gian-thời gian lao động hoàn toàn mới thông qua mạng.

Từ các khái niệm trên, có thể định nghĩa: “CNTB số là mô hình phát triển mới của CNTB, trong đó công nghệ số, dữ liệu và AI làm trung gian chi phối các quá trình kinh tế-xã hội, định hình phương thức sản xuất, phân phối và tích lũy tư bản hiện đại”.

Ảnh minh họa/ lyluanchinhtri.vn 

Có thể khẳng định, CNTB số là giai đoạn phát triển hiện đại của tư bản, lấy dữ liệu, hạ tầng mạng và AI làm lực lượng sản xuất trung tâm với các đặc điểm: (1) Đặc điểm chung là số hóa và hàng hóa hóa toàn bộ đời sống xã hội. Ranh giới giữa các thành phần trong xã hội bị xóa mờ, biến mọi thời gian tương tác trực tuyến của con người thành hoạt động tạo ra giá trị cho tư bản; (2) Về kinh tế, tích lũy dựa trên trích xuất dữ liệu và thặng dư hành vi. Các tập đoàn công nghệ toàn cầu (big tech) thiết lập độc quyền các nền tảng số, bóc lột "lao động số" không lương của người dùng và áp dụng quản trị bằng thuật toán để tối ưu hóa chi phí, đẩy rủi ro an sinh về phía người lao động, đặc biệt là lực lượng lao động phi chính thức; (3) Về chính trị, CNTB số chuyển hóa quyền lực kinh tế thành quyền lực chính trị số. Tư bản nền tảng thao túng dòng chảy thông tin, chi phối định hướng dư luận, can thiệp vào các tiến trình chính trị và xâm phạm chủ quyền dữ liệu số của các quốc gia, tạo nên CNTB giám sát; (4) Về văn hóa, thương mại hóa văn hóa đại chúng thông qua thuật toán gợi ý. Sự chú ý trở thành hàng hóa, hình thành văn hóa tiêu dùng nhanh, cô lập người dùng trong các "bong bóng thông tin" và các “buồng van thông tin”, gây nên hiện tượng “thối não” của công chúng, người dân; (5) Về xã hội, bất bình đẳng gia tăng giữa chủ sở hữu nền tảng và các tầng lớp cư dân mạng. Đời sống riêng tư bị xâm phạm, trong khi người lao động đối mặt với tình trạng việc làm bấp bênh, lệ thuộc vào giám sát và quản trị thuật toán trong kỷ nguyên số.

Bóc lột truyền thống chuyển thành bóc lột kỹ thuật số

CNTB số đánh dấu bước chuyển dịch toàn diện so với mô hình công nghiệp truyền thống trên 4 phương diện chính, đó là: (i) Về tư liệu và không gian, hệ thống chuyển từ máy móc cơ khí giới hạn trong xưởng sản xuất sang hạ tầng nền tảng số, điện toán đám mây và thuật toán AI bao phủ toàn bộ không gian mạng lẫn đời sống xã hội. (ii) Về thời gian và chủ thể, ranh giới ca làm việc 8 giờ bị xóa bỏ bởi mô hình vừa giải trí vừa tạo giá trị, mở rộng đối tượng bị bóc lột từ công nhân làm thuê sang hàng tỷ người dùng mạng xã hội và lao động tự do. (iii) Về hàng hóa và chi phí, sản phẩm chuyển từ hàng hóa vật chất sang dữ liệu thô, sự chú ý và thặng dư hành vi; do tư bản không trả lương cho người dùng tạo dữ liệu, khi đó, tỷ lệ bóc lột giá trị thặng dư tiến tới vô cùng. (iv) Về quản lý, đốc công trực tiếp được thay thế bằng quản trị thuật toán, bằng xã hội thuật toán, đồng thời tư bản đẩy toàn bộ rủi ro trang thiết bị về phía người lao động, xác lập cơ chế bóc lột diện rộng và tinh vi trong kỷ nguyên số. Bảng dưới đây mô tả các tiêu chí so sánh giữa CNTB truyền thống và CNTB kỹ thuật số.

Tiêu chí so sánh

CNTB truyền thống (theo tiếp cận của Marx)

CNTB kỹ thuật số

Không gian bóc lột

Giới hạn trongnhà máy, công xưởng, văn phòng.

Toàn bộ không gian mạng và đời sống xã hội, phủ sóng mọi lúc, mọi nơi qua thiết bị di động.

Thời gian lao động

Phân chia rành mạch giữathời gian làm việc(8 giờ) vàthời gian nghỉ ngơi.

Xóa bỏ ranh giới làm việc và giải trí. Mọi thời gian online đều tạo ra giá trị cho tư bản.

Chủ thể bị bóc lột

Công nhân làm thuê có hợp đồng lao động.

Công nhân kỹ thuật sốvà hàng tỷ người dùng mạng xã hội không có hợp đồng lao động.

Phương tiện sản xuất

Máy móc cơ khí, nguyên, nhiên liệu, vật chất, nhà xưởng.

Hạ tầng nền tảng số, trung tâm dữ liệu, thuật toán AI

Hình thái hàng hóa

Sản phẩm hữu hình(vải vóc, thép, ô tô...).

Dữ liệu thô, nội dung số, sự chú ý, mô hình dự báo hành vi AI.

Chi phí tư bản biến đổi

Tư bản phải trảtiền lươngđể tái sản xuất sức lao động cho công nhân.

Bằng 0đối với người dùng phổ thông, sinh sống và cung cấp dữ liệu thô cho các nền tảng số.

Phương thức quản lý

Đốc công, quy chế nhà máy, điểm danh trực tiếp.

Quản trị bằng thuật toán, giám sát dữ liệu thời gian thực.

 

Vấn đề đặt ra dưới tác động của chủ nghĩa tư bản số

Những vấn đề đặt ra đối với nước ta hiện nay dưới tác động của CNTB số bao gồm:

Một là, thách thức về chủ quyền dữ liệu số và an ninh mạng. Các tập đoàn big tech nước ngoài hiện nắm giữ hạ tầng mạng và thu thập dữ liệu hành vi của hàng chục triệu người dùng Việt Nam, tạo ra nguy cơ phụ thuộc công nghệ, "chảy máu" tài nguyên dữ liệu ra ngoài lãnh thổ và đe dọa trực tiếp đến chủ quyền an ninh số quốc gia.

Hai là, vấn đề bóc lột lao động phi chính thức và nguy cơ mất an sinh và an toàn xã hội. Sự phát triển mạnh mẽ của các nền tảng gọi xe, giao hàng, thương mại điện tử tạo ra lực lượng lao động tự do đông đảo. Đội ngũ người lao động này phải chịu sự quản trị bằng thuật toán và bị trích xuất giá trị thặng dư nhưng thường thiếu hợp đồng lao động chính thức, không được hưởng đầy đủ chế độ bảo hiểm và các chính sách an sinh xã hội.

Ba là, sự thao túng không gian văn hóa-tư tưởng và tác động tiêu cực đến an toàn xã hội. Sự thống trị của các thuật toán mạng xã hội dễ hình thành các "bong bóng thông tin" và các “buồng van thông tin”, làm lan truyền tin giả, thông tin xấu độc và xói mòn giá trị văn hóa truyền thống; đồng thời, tội phạm công nghệ cao và lừa đảo trực tuyến diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội.

Bốn là, sự lệ thuộc vào công nghệ lõi, công nghệ nền và sự chậm trễ của thể chế. Khả năng chủ động về công nghệ nguồn (AI, chip bán dẫn, hạ tầng đám mây) của Việt Nam còn hạn chế; trong khi đó, chính sách, pháp luật của Nhà nước và cơ chế quản trị đối với các mô hình kinh doanh số mới, tài sản số và kiểm soát độc quyền nền tảng chưa theo kịp thực tiễn, dẫn đến nguy cơ mất an toàn, an ninh quốc gia và bất bình đẳng xã hội.

(còn nữa)