Với 120 hộ thành viên và 464ha lúa, Hợp tác xã Nông nghiệp Gò Gòn ở Tây Ninh đứng trước nhu cầu đầu tư máy móc, thiết bị để chuyển đổi phương thức sản xuất. Đó cũng là bài toán của nhiều hợp tác xã tham gia Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu long (ĐBSCL) đến năm 2030” khi thay đổi cách canh tác phải đi cùng nguồn lực cho thu hoạch, sấy, bảo quản và chế biến. Chương trình tín dụng phục vụ liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp đã giải ngân khoảng 5.000 tỷ đồng, trong khi nhu cầu vốn thực hiện đề án ước khoảng 83.000 tỷ đồng.
Để đáp ứng nhu cầu ấy, ngành Ngân hàng phải đồng thời tổ chức nguồn vốn, thiết kế cơ chế tài trợ phù hợp và phối hợp tháo gỡ những vướng mắc về điều kiện vay. Từ câu chuyện Gò Gòn để bức tranh toàn ngành, câu hỏi đặt ra là: “Mở van” tín dụng như thế nào để vốn vừa có khả năng phục vụ mô hình tăng trưởng mới vừa giữ vững an toàn hệ thống?
Từ mục tiêu tăng trưởng đến “bài toán kép” của ngành Ngân hàng
Đại hội XIV của Đảng và Kết luận 18-KL/TW ngày 2-4-2026 của Trung ương đặt mục tiêu tăng trưởng cao trong cùng một chỉnh thể với ổn định kinh tế vĩ mô, tài chính quốc gia và an toàn hệ thống. Chính phủ cụ thể hóa yêu cầu này thành chương trình hành động, kịch bản tăng trưởng và nhiệm vụ của từng ngành, từng địa phương. Với ngành Ngân hàng, đó là hai nhiệm vụ phải thực hiện đồng thời: cung ứng vốn cho sản xuất, kinh doanh và giữ vững các cân đối tiền tệ, tài chính.
 |
|
HTX Nông nghiệp Gò Gòn xây dựng vùng nguyên liệu lúa chất lượng cao, gắn tiêu chuẩn sản xuất với sở hữu trí tuệ, truy xuất nguồn gốc và hồ sơ số. Ảnh: vnbusiness.vn
|
Để thực hiện nhiệm vụ ấy, Chương trình hành động của Đảng ủy Ngân hàng Nhà nước (NHNN) yêu cầu đổi mới cách lãnh đạo, chỉ đạo theo hướng chủ động tạo điều kiện, khơi thông nguồn lực phục vụ phát triển; xác định rõ trách nhiệm, tiến độ và kết quả để kiểm tra, giám sát. Trong điều hành, NHNN sử dụng các công cụ tiền tệ, tín dụng, pháp lý và thanh tra giám sát để cụ thể hóa những định hướng đó. Tăng khả năng cung ứng vốn cần đi cùng ổn định kỳ vọng thị trường và củng cố sức chống chịu của hệ thống.
Làm việc với NHNN và hệ thống các tổ chức tín dụng ngày 13-8-2026, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nêu rõ: “Tăng trưởng tín dụng phải đi đôi với kiểm soát rủi ro”. Thủ tướng đồng thời yêu cầu điều hành dựa trên dữ liệu, dự báo và kịch bản cụ thể, thường xuyên đánh giá mức độ hỗ trợ tăng trưởng phù hợp với yêu cầu kiểm soát lạm phát.
Trong thực tế, mỗi quyết định hỗ trợ vốn đều phải tính đến nhiều mặt. Giảm lãi suất cho vay giúp doanh nghiệp bớt chi phí, nhưng ngân hàng vẫn phải trả lãi để huy động tiền gửi. Tăng cho vay giúp mở rộng sản xuất, nhưng phải đánh giá được khả năng trả nợ của khách hàng. Việc cung ứng thêm tiền cho nền kinh tế cũng cần được tính toán để tránh gây sức ép lên giá cả và tỷ giá.
Áp lực về chi phí vốn đã hiện hữu. Đến ngày 20-9-2026, lãi suất tiền gửi bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới khoảng 6,38%/năm, tăng 1,15 điểm phần trăm so với cuối năm 2025. Trong khi chi phí huy động tăng, các tổ chức tín dụng vẫn được yêu cầu giảm lãi suất cho vay đối với lĩnh vực ưu tiên. Bài toán đặt ra là vừa giảm gánh nặng cho người vay, vừa duy trì nguồn vốn và khả năng hoạt động an toàn của ngân hàng. Vì vậy, “mở van” tín dụng phải đi cùng khả năng giữ vững các cân đối của hệ thống.
Đến ngày 30-9-2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 20,75 triệu tỷ đồng, tăng 11,59% so với cuối năm 2025. Chỉ trong 9 tháng, khoảng 2,2 triệu tỷ đồng tín dụng được bổ sung cho nền kinh tế. Xét cơ cấu tổng dư nợ, khoảng 77,44% phục vụ sản xuất, kinh doanh. Dòng vốn cũng nghiêng rõ hơn về các động lực mới với kết quả đến cuối tháng 8-2026, dư nợ cho xuất khẩu tăng 33,32%, cho doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 39,62%, cao hơn nhiều mức tăng chung của toàn hệ thống.
Quy mô ấy cho thấy tín dụng tiếp tục giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong năm đầu thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số khi GDP 9 tháng ước tăng 9,01%; đồng thời đặt ra yêu cầu theo dõi phần vốn tăng thêm thực sự tạo ra kết quả gì. Nhiệm vụ của ngành ngân hàng còn là tạo khuôn khổ để vốn được dẫn vào sản xuất, những lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng mới; đồng thời nhận diện sớm rủi ro phát sinh từ quá trình tăng tốc. Vai trò điều hành thể hiện ở khả năng kết hợp những mục tiêu ấy trong từng thời điểm, thay vì theo đuổi riêng một chỉ tiêu dư nợ.
Định hướng dòng vốn vào các động lực tăng trưởng
Để vốn phục vụ mô hình tăng trưởng mới, ngành Ngân hàng phải xác định rõ những lĩnh vực cần ưu tiên và có cơ chế hỗ trợ phù hợp. Các chương trình tín dụng dành cho hạ tầng, công nghệ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, nông nghiệp hay nhà ở xã hội đang cụ thể hóa yêu cầu đó. Qua từng chương trình, định hướng phát triển được chuyển thành kế hoạch bố trí vốn, đối tượng cho vay và chính sách lãi suất.
Với hạ tầng điện, giao thông và công nghệ chiến lược, chương trình tín dụng quy mô tới 500.000 tỷ đồng có 21 ngân hàng thương mại đăng ký tham gia. Đây là nguồn vốn do các ngân hàng tự huy động, cân đối để cho vay; từng dự án vẫn phải được thẩm định về hiệu quả và khả năng trả nợ. Đến cuối tháng 8-2026, dư nợ chương trình đạt khoảng 16.910 tỷ đồng.
 |
|
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phạm Đức Ấn làm việc với lãnh đạo 46 ngân hàng thương mại, sáng 19-10. Ảnh: Thời báo Ngân hàng |
Chương trình tín dụng cho các động lực tăng trưởng và doanh nghiệp nhỏ và vừa triển khai từ tháng 8-2026 cũng thu hút 19 ngân hàng đăng ký tham gia với quy mô 409.000 tỷ đồng tính đến đầu tháng 10. Sau gần hai tháng triển khai, dư nợ đạt khoảng 18.600 tỷ đồng với gần 12.900 khách hàng. Trong nông nghiệp, chương trình tín dụng nông-lâm-thủy sản đã nhiều lần được nâng quy mô, lên 185.000 tỷ đồng với với doanh số giải ngân lũy kế khoảng 225.577 tỷ đồng. Ở chương trình nhà ở xã hội, doanh số giải ngân đến hết tháng 5-2026 khoảng 12.440 tỷ đồng.
Định hướng còn được cụ thể hóa tới giá vốn khi văn bản số 7125/NHNN-TD ngày 7-8-2026 của NHNN yêu cầu áp dụng lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng các lĩnh vực ưu tiên. Tuy nhiên, việc thẩm định, phân loại nợ và trích lập dự phòng vẫn thực hiện theo quy định hiện hành. Ưu đãi về giá vốn phải đi cùng điều kiện tín dụng và trách nhiệm sử dụng vốn. Như vậy, “địa chỉ” của tín dụng được gắn với cả cơ chế cụ thể về chi phí tiếp cận vốn.
Nhìn theo mục tiêu phát triển, các chương trình này giải những bài toán khác nhau: Vốn cho hạ tầng và công nghệ bổ sung năng lực sản xuất; tín dụng cho vùng lúa phát thải thấp hỗ trợ thay đổi cách canh tác, thu hoạch và chế biến; nhà ở xã hội giải quyết một nhu cầu an sinh có quan hệ trực tiếp với đô thị hóa và thị trường lao động. Vì vậy, hiệu quả của các chương trình cần được nhìn từ cả khả năng đưa vốn tới đúng đối tượng và kết quả sử dụng vốn.
Năng lực hấp thụ vốn cũng khác nhau giữa các lĩnh vực. Hạ tầng cần hoàn thiện pháp lý và phương án hoàn vốn; nhà ở xã hội cần nguồn cung dự án đủ điều kiện; nông nghiệp liên kết cần tổ chức sản xuất và đầu ra. Với trường hợp như Gò Gòn, ngân hàng cần thông tin đáng tin cậy về sản lượng, hợp đồng đầu ra và lịch thanh toán để đánh giá khả năng trả nợ. Vì vậy, “mở van” tín dụng phải đi cùng sự phối hợp giữa ngành Ngân hàng, các bộ, ngành và địa phương để tháo gỡ những điều kiện còn thiếu, giúp vốn được đưa vào đúng địa chỉ.
Tăng tốc nhưng không được “nóng máy”
Muốn mở rộng cho vay, ngân hàng phải có nguồn vốn tương ứng và bảo đảm khách hàng có khả năng trả nợ. Giảm lãi suất cho vay cần tính tới chi phí huy động và khả năng đáp ứng vốn; cung ứng thanh khoản phải phù hợp với diễn biến thị trường; tăng tài trợ dài hạn cần đi cùng nguồn vốn ổn định và năng lực quản trị. Vì vậy, “mở van” tín dụng phải đi cùng khả năng duy trì nguồn vốn, đáp ứng nhu cầu chi trả và kiểm soát những khoản vay có nguy cơ không thu hồi được.
Theo tổng hợp của Viện Nghiên cứu Kinh tế BIDV, đến tháng 7-2026, chênh lệch giữa quy mô tín dụng và huy động vốn của hệ thống khoảng 2,75 triệu tỷ đồng. Con số này không có nghĩa hệ thống mất cân đối thanh khoản, bởi tiền gửi không phải nguồn vốn duy nhất của ngân hàng. Tuy nhiên, đây là một dấu hiệu cần theo dõi khi mở rộng cho vay. Đến ngày 28-9-2026, theo Cục Thống kê, huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 9,78% so với cuối năm 2025, trong khi tín dụng tăng 10,89%. Cho vay tăng nhanh hơn huy động đặt ra yêu cầu các ngân hàng phải chủ động bổ sung nguồn vốn, đồng thời kiểm soát chi phí để có thể duy trì lãi suất cho vay phù hợp.
Nguồn tiền gửi kỳ hạn dưới 12 tháng chiếm khoảng 80% tổng huy động, trong khi khoảng một nửa dư nợ là trung, dài hạn. Càng tài trợ nhiều cho hạ tầng, năng lượng và những dự án hoàn vốn dài, ngân hàng càng phải quản trị tốt kỳ hạn, duy trì vốn tự có và kiểm soát rủi ro tập trung. Cho vay hợp vốn là một cách phối hợp nguồn lực, chia sẻ rủi ro đối với những dự án vượt khả năng tài trợ riêng của một tổ chức.
Tại cuộc họp với các tổ chức tín dụng ngày 19-10-2026, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phạm Đức Ấn nhấn mạnh: “Tuyệt đối không hạ chuẩn điều kiện cấp tín dụng”. Trong chỉ đạo này, mở rộng cung ứng vốn gắn với kiểm soát chất lượng tài sản, cân đối nguồn vốn và tuân thủ giới hạn an toàn. Đó là nguyên tắc chung phải được giữ xuyên suốt khi triển khai các chương trình ưu tiên.
Ở phía sử dụng vốn, cần phân biệt mở rộng năng lực sản xuất với gia tăng đòn bẩy tài chính. Vốn đầu tư vào thiết bị, công nghệ và hạ tầng có thể bổ sung năng lực cung ứng sau một độ trễ. Cùng số tiền ấy nếu chủ yếu làm tăng giá tài sản mà không bổ sung sản lượng sẽ tạo ra một tác động rất khác đối với tăng trưởng, lạm phát và ổn định tài chính. Con số 77,44% dư nợ phục vụ sản xuất kinh doanh vì vậy có ý nghĩa không kém tốc độ tăng tín dụng 11,59%. Một con số cho biết hệ thống đã mở rộng bao nhiêu; con số còn lại cho biết dòng vốn chủ yếu đang hướng vào đâu.
Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV ngày 25-3-2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu: “Kiên quyết loại bỏ tư duy chạy theo thành tích”. Đặt vào hoạt động tín dụng, yêu cầu về tăng trưởng thực chất đòi hỏi theo dõi hiệu quả sử dụng vốn và khả năng trả nợ, tránh lấy tốc độ tăng dư nợ làm thước đo duy nhất.
Ở cấp ngành, thanh tra, giám sát và cảnh báo sớm phải theo kịp quá trình mở rộng tín dụng, nhất là rủi ro tập trung, chênh lệch kỳ hạn và chất lượng phần vốn tăng thêm. Nhiệm vụ ấy cần đi cùng yêu cầu nâng cao năng lực tài chính, quản trị và kiểm soát nội bộ của các tổ chức tín dụng. Đó là nền tảng để hệ thống vừa “mở van” phục vụ tăng trưởng, vừa duy trì khả năng cung ứng vốn an toàn, liên tục cho nền kinh tế.
Năng lực tổ chức thực hiện quyết định chất lượng dòng vốn
Khoảng cách giữa định hướng tín dụng và khả năng tiếp cận vốn cho thấy vai trò tổ chức thực hiện của ngành không dừng ở ban hành chương trình. Để vốn đến được doanh nghiệp, dự án, ngành Ngân hàng cần theo dõi quá trình triển khai: đối tượng nào đã vay được, hồ sơ nào còn vướng, nguyên nhân nằm ở quy định hay cách thực hiện. Thông tin từ thực tế giúp cơ quan quản lý điều chỉnh những nội dung thuộc thẩm quyền, đồng thời phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xử lý những vấn đề liên quan.
Hơn 1.000 cuộc kết nối ngân hàng với doanh nghiệp được tổ chức trên toàn quốc trong 6 tháng đầu năm 2026 là một kênh tiếp nhận thông tin như vậy. Sau đối thoại, người cần vốn phải biết vấn đề của mình được chuyển tới đâu, ai xử lý và điều kiện nào cần hoàn thiện. NHNN không thể thay cơ quan chuyên môn giải quyết mọi thủ tục đầu tư, cũng không thẩm định thay tổ chức tín dụng. Nhưng với vai trò quản lý ngành, cơ quan này có trách nhiệm hoàn thiện khuôn khổ, hướng dẫn, giám sát và phối hợp tháo gỡ các vướng mắc trong phạm vi chức năng. Chính quyền địa phương, bộ, ngành liên quan và chủ đầu tư phải cùng chuẩn bị những điều kiện để dự án đủ khả năng nhận vốn. Vì vậy, kết quả lãnh đạo, chỉ đạo ở cấp ngành cần được đánh giá bằng những chuyển biến cụ thể: Khả năng tiếp cận vốn của các nhóm ưu tiên có được cải thiện, vướng mắc đã được giải quyết đến đâu, vốn giải ngân có đi vào sản xuất và rủi ro có được phát hiện kịp thời hay không. Cách theo dõi này giúp phân biệt khó khăn cần sửa cơ chế với hạn chế phải khắc phục trong tổ chức thực hiện và trách nhiệm của các đơn vị liên quan.
Phát triển thị trường vốn dài hạn vẫn là nhiệm vụ phải được thúc đẩy đồng thời. Kết luận 18-KL/TW đặt yêu cầu ưu tiên phát triển thị trường vốn trong nước làm kênh huy động vốn dài hạn, giảm dần sự phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng. Khi các kênh vốn bổ trợ cho nhau tốt hơn, chính sách tiền tệ và tín dụng có thêm điều kiện thực hiện đúng vai trò, tránh dồn toàn bộ sức ép nguồn lực lên bảng cân đối ngân hàng.
“Mở van” để đáp ứng nhu cầu phát triển, “giữ áp” để dòng vốn được duy trì an toàn, bền vững: bài toán ấy đòi hỏi ngành Ngân hàng phối hợp chặt chẽ giữa điều hành, định hướng tín dụng và tổ chức thực hiện. Từ khuôn khổ chung của ngành, nhiệm vụ tiếp tục được chuyển tới từng tổ chức tín dụng. Ở đó, nghị quyết được cụ thể hóa thành chiến lược, quy trình và từng quyết định cho vay như thế nào? Ai chịu trách nhiệm về kết quả và quyền quyết định phân bổ vốn được kiểm soát ra sao? Đó là những câu hỏi cần được trả lời từ thực tiễn cơ sở.
TS. Phạm Thị Hạnh - Lưu Minh Trí - Vũ Thu Hiền - Nguyễn Ngọc Nhật