Tăng trưởng dựa trên chất lượng và công nghệ
Trong nhiều thập kỷ, công thức tăng trưởng của Việt Nam dựa chủ yếu vào thâm dụng lao động và mở rộng quy mô sản xuất thô. Tuy nhiên, dữ liệu những tháng đầu năm 2026 cho thấy một sự thay đổi rất lớn.
Theo Thạc sĩ Trần Thị Thu (Cục Thống kê, Bộ Tài chính), động lực tăng trưởng đang chuyển dịch mạnh mẽ sang nền tảng công nghệ cao và đổi mới sáng tạo. Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đang tập trung vào các lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế số: Điện tử, bán dẫn và công nghệ lõi. Việc phần lớn kim ngạch nhập khẩu là máy móc, thiết bị và linh kiện cho thấy nền kinh tế đang trong quá trình tích lũy năng lực sản xuất mới. Đây chính là bước chuẩn bị cần thiết để nền kinh tế thoát khỏi bẫy gia công và tiến sâu hơn vào phân khúc có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu.
 |
| Hoạt động sản xuất hàng kinh tế tại Công ty TNHH MTV Cơ khí Hóa chất 13 (Nhà máy Z113), Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng. |
Điểm sáng rực rỡ nhất trong bức tranh kinh tế đầu năm 2026 là tốc độ tăng trưởng có sự cải thiện rõ rệt so với cùng kỳ năm trước với sự xuất hiện của nhiều cực tăng trưởng mới. Trước đây, tăng trưởng cả nước chủ yếu phụ thuộc vào một vài đầu tàu truyền thống. Gần đây, bản đồ kinh tế Việt Nam đang chứng kiến sự bứt phá đồng đều tại 34 tỉnh, thành phố, đặc biệt là 9 địa phương đạt mức tăng trưởng trên 10%; trong đó, Hà Tĩnh đạt mức tăng trưởng 12,79%, Hải Phòng đạt mức tăng trưởng 11,33% đang trở thành những thủ phủ công nghiệp và logistics hiện đại. Quảng Ninh đạt mức tăng trưởng 11,11%, là địa phương chuyển đổi thành công từ kinh tế khai khoáng sang kinh tế xanh dựa trên chế biến, chế tạo, du lịch-dịch vụ. Bắc Ninh, Thái Nguyên, Ninh Bình cũng vững vàng bước vào nhóm những địa phương có tốc độ tăng trưởng thuộc tốp dẫn đầu cả nước, dần hình thành một vành đai công nghệ mới từ điện tử đến bán dẫn.
Sự trỗi dậy của các địa phương này cho thấy một thực tế rất đáng mừng là nước ta đang hình thành các hành lang kinh tế và chuỗi cung ứng liên kết vùng. Khi các địa phương tự tìm thấy lợi thế cạnh tranh riêng biệt (logistics, bán dẫn, hay công nghệ cao), nền kinh tế quốc gia sẽ có một hệ sinh thái cộng hưởng cực kỳ bền vững.
Động lực từ thể chế và những nút thắt cần tiếp tục tháo gỡ
Ngày 1-7-2026 đánh dấu một cột mốc lịch sử khi Luật Chuyển đổi số năm 2025 và Luật Công nghệ cao năm 2025 chính thức có hiệu lực. Nhiều chuyên gia kinh tế ví von, các đạo luật này chính là "phần mềm" vận hành nền kinh tế số.
Đây là hành lang pháp lý tối quan trọng để thu hút các "đại bàng" công nghệ quốc tế tìm tới nước ta "xây tổ" trên các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI) và trung tâm dữ liệu. Thể chế đang được hoàn thiện để cởi trói các nguồn lực và bảo vệ những giá trị mới từ kinh tế số. Việc lấy chất lượng và tính bền vững làm trọng tâm trong thu hút đầu tư FDI cho thấy nước ta không còn thu hút đầu tư bằng mọi giá mà đang chủ động chọn lọc những mảnh ghép phù hợp nhất cho mục tiêu "hóa rồng".
Dù cơ hội rất lớn, nhưng để đạt mức tăng trưởng trên 10% cho cả giai đoạn 2026-2030, chúng ta cũng đang phải đối mặt với những thách thức thực tế cần được tháo gỡ kịp thời. Đó là tỷ lệ giá trị gia tăng do doanh nghiệp nội địa đóng góp trong ngành công nghệ cao còn thấp. Chúng ta cần những doanh nghiệp đầu đàn trong nước đủ sức bắt tay cùng các tập đoàn FDI.
Đó là lời giải cho bài toán khó về năng suất lao động và nhân lực. Nước ta cần nhanh chóng bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ nền kinh tế số với công nghệ hiện đại. Do vậy, đào tạo nhân lực bán dẫn và AI phải trở thành chiến lược quốc gia cấp bách.
Đó là thách thức trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Cải thiện môi trường đầu tư để vốn mồi đầu tư công thực sự kích hoạt được nguồn lực khổng lồ từ khu vực tư nhân là vấn đề then chốt để nguồn lực-"dòng máu" nuôi dưỡng sự tăng trưởng-lưu thông được tới mọi khu vực của nền kinh tế.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026 và giai đoạn tới là một thách thức rất lớn nhưng hoàn toàn khả thi nếu chúng ta biết cách chuyển hóa những tiềm năng hiện có thành năng lực thực chất. Khi công nghệ cao được hỗ trợ bởi một hệ thống thể chế minh bạch và sự liên kết vùng chặt chẽ, Việt Nam sẽ đạt được mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững, sẵn sàng bước vào kỷ nguyên mới với tâm thế của một nền kinh tế năng động và tự chủ.