Có ý kiến cho rằng đây là động thái cần thiết để bảo đảm chất lượng nguồn nhân lực; cũng có ý kiến băn khoăn liệu việc siết điều kiện có làm thu hẹp quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học hay không. Tuy nhiên, nhìn từ yêu cầu phát triển của đất nước và đặc thù của hai lĩnh vực y khoa, luật học, có thể thấy đây là chủ trương đúng hướng. Vấn đề quan trọng không nằm ở việc tăng hay giảm quyền tự chủ, mà ở chỗ phải thiết lập được cơ chế để tự chủ luôn gắn với cam kết chất lượng, trách nhiệm giải trình và sự giám sát của xã hội.

Tự chủ đại học là xu hướng phát triển tất yếu của giáo dục hiện đại. Trong hơn một thập niên qua, chủ trương trao quyền tự chủ đã tạo động lực mạnh mẽ cho các trường đại học Việt Nam đổi mới quản trị, đa dạng hóa nguồn lực, nâng cao chất lượng đào tạo và tăng cường năng lực cạnh tranh. Nhiều cơ sở giáo dục đại học đã có bước phát triển vượt bậc về quy mô, chất lượng nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế và vị thế học thuật. Có thể khẳng định rằng, nếu không có tự chủ, giáo dục đại học Việt Nam khó có thể đạt được những thành tựu như ngày nay.

Giảng viên Khoa công nghệ điện tử Trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh hướng dẫn sinh viên học tập, nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm IoT and AI. Ảnh: TTXVN 

Tuy nhiên, trong bất kỳ lĩnh vực nào, quyền lực càng lớn thì trách nhiệm càng cao. Tự chủ không có nghĩa là tự quyết vô điều kiện. Một trường đại học được trao quyền mở ngành, tuyển sinh, xây dựng chương trình đào tạo hay quyết định chiến lược phát triển thì đồng thời phải chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm đào tạo mà mình cung cấp cho xã hội. Đây chính là nguyên tắc nền tảng của mô hình quản trị đại học hiện đại trên thế giới. Đối với các ngành thuộc lĩnh vực sức khỏe và pháp luật, yêu cầu này càng trở nên đặc biệt quan trọng bởi đây là những ngành có tác động trực tiếp đến những giá trị cốt lõi của xã hội: sức khỏe con người và công lý.

Đào tạo y khoa luôn được quản lý theo những tiêu chuẩn rất nghiêm ngặt

Không phải ngẫu nhiên mà ở hầu hết các quốc gia phát triển, đào tạo y khoa luôn được quản lý theo những tiêu chuẩn rất nghiêm ngặt. Bác sĩ là nghề nghiệp liên quan trực tiếp đến sinh mạng con người. Một sai sót trong chẩn đoán, một quyết định điều trị thiếu chính xác hay một thao tác chuyên môn không đạt chuẩn đều có thể để lại hậu quả nghiêm trọng. Vì vậy, xã hội không thể chấp nhận việc đào tạo bác sĩ theo cách dễ dãi hoặc chỉ dựa trên những điều kiện tối thiểu.

Điểm đặc thù của đào tạo y khoa là quá trình hình thành năng lực nghề nghiệp không chỉ diễn ra trong giảng đường mà chủ yếu được tạo dựng thông qua thực hành lâm sàng. Một sinh viên y khoa phải được tiếp cận thường xuyên với môi trường bệnh viện, được hướng dẫn bởi đội ngũ bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, được thực hành trên hệ thống phòng thí nghiệm, trung tâm mô phỏng và cơ sở vật chất hiện đại. Đào tạo y khoa đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa giảng dạy, nghiên cứu và thực hành nghề nghiệp. Đây là lĩnh vực có chi phí đào tạo cao, yêu cầu đầu tư lớn và thời gian chuẩn bị dài.

Nếu cơ sở đào tạo không có đủ đội ngũ giảng viên cơ hữu, không có bệnh viện thực hành hoặc chỉ dựa vào những liên kết mang tính hình thức, chất lượng đào tạo khó có thể được bảo đảm. Khi đó, hậu quả không chỉ dừng lại ở một tấm bằng đại học kém giá trị mà có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của con người.

Chất lượng đào tạo luật không được kiểm soát chặt chẽ, hệ lụy sẽ rất lớn

Ngành luật cũng có những đặc thù riêng và không kém phần quan trọng. Trong bối cảnh Việt Nam đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhu cầu về nguồn nhân lực pháp lý chất lượng cao ngày càng lớn. Tuy nhiên, luật học không phải là ngành đào tạo chỉ để cung cấp kiến thức về các văn bản quy phạm pháp luật. Bản chất của đào tạo luật là hình thành tư duy pháp lý, năng lực phân tích, khả năng lập luận, kỹ năng tranh tụng, kỹ năng giải quyết tranh chấp và ý thức bảo vệ công lý. Một cử nhân luật giỏi không phải là người thuộc nhiều điều luật nhất mà là người có khả năng vận dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề của thực tiễn. Để làm được điều đó, chương trình đào tạo phải gắn chặt với hoạt động thực hành nghề nghiệp, với các tình huống pháp lý cụ thể và với yêu cầu phát triển của hệ thống tư pháp.

Nếu chất lượng đào tạo luật không được kiểm soát chặt chẽ, hệ lụy sẽ rất lớn. Một luật sư yếu chuyên môn có thể làm tổn hại quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng. Một chuyên gia pháp lý thiếu năng lực có thể gây ra những rủi ro cho doanh nghiệp. Một đội ngũ cán bộ pháp luật không được đào tạo bài bản sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng thực thi pháp luật. Những hậu quả ấy tuy không nhìn thấy ngay như trong lĩnh vực y tế nhưng tác động lâu dài đến môi trường pháp lý, môi trường đầu tư và niềm tin xã hội đối với công lý.

Chính vì vậy, việc siết điều kiện đào tạo đối với các ngành y và luật không nên được nhìn nhận như một biện pháp hành chính đơn thuần mà cần được xem là một yêu cầu khách quan nhằm bảo vệ lợi ích công cộng. Điều quan trọng là cách thức thực hiện phải phù hợp với tinh thần đổi mới quản trị đại học.

Siết điều kiện không có nghĩa là quay trở lại cơ chế “xin - cho”

Trong những năm gần đây, giáo dục đại học Việt Nam đang đứng trước một thách thức mới. Nếu giai đoạn trước đây là mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục đại học thì giai đoạn hiện nay là nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo. Đất nước không chỉ cần nhiều nhân lực hơn mà cần nguồn nhân lực có chất lượng cao hơn. Trong bối cảnh đó, việc mở ngành không thể được xem là quyền đương nhiên của mọi cơ sở giáo dục đại học mà phải dựa trên năng lực thực chất.

Tuy nhiên, siết điều kiện không có nghĩa là quay trở lại cơ chế “xin - cho”. Điều mà giáo dục đại học cần hướng tới là chuyển từ quản lý bằng mệnh lệnh hành chính sang quản lý bằng chuẩn mực chất lượng. Nhà nước không nhất thiết can thiệp quá sâu vào hoạt động của các trường nhưng phải thiết lập được hệ thống tiêu chuẩn rõ ràng, minh bạch và có khả năng kiểm chứng. Trường nào đáp ứng được các tiêu chuẩn ấy thì được trao quyền phát triển. Trường nào không đáp ứng thì phải chịu các chế tài tương ứng.

Quan trọng hơn, cùng với tự chủ phải là cơ chế giải trình mạnh mẽ. Đây chính là điểm còn tương đối yếu trong quá trình thực hiện tự chủ đại học thời gian qua. Chúng ta nói nhiều đến việc trao quyền nhưng chưa thực sự tạo được áp lực đủ mạnh về trách nhiệm giải trình. Trong khi đó, tại các nền giáo dục tiên tiến, giải trình được coi là mặt thứ hai của tự chủ, không thể tách rời khỏi tự chủ.

Một trường đại học được quyền mở ngành đào tạo bác sĩ phải giải trình về đội ngũ giảng viên, bệnh viện thực hành, cơ sở vật chất và chất lượng đầu ra. Một trường đào tạo luật phải giải trình về năng lực học thuật, hoạt động nghiên cứu khoa học, môi trường thực hành nghề nghiệp và hiệu quả đào tạo. Những cam kết đó không chỉ được báo cáo với cơ quan quản lý nhà nước mà còn phải được công khai để xã hội giám sát.

Đặc biệt, trong thời đại dữ liệu mở, các trường cần công bố đầy đủ những chỉ số phản ánh chất lượng đào tạo như tỷ lệ giảng viên cơ hữu, tỷ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp, mức độ đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp, kết quả kiểm định chất lượng, mức độ hài lòng của người học và nhà tuyển dụng. Khi các thông tin này được công khai minh bạch, người học sẽ có cơ sở để lựa chọn, xã hội có cơ sở để giám sát và chính các trường cũng có động lực để nâng cao chất lượng.

Mọi thông tin phải được công khai minh bạch, người học sẽ có cơ sở để lựa chọn, xã hội có cơ sở để giám sát

Suy cho cùng, mục tiêu cuối cùng của giáo dục đại học không phải là gia tăng số lượng ngành đào tạo hay số lượng cơ sở đào tạo. Điều xã hội cần là những bác sĩ đủ năng lực cứu chữa người bệnh, những luật gia đủ năng lực bảo vệ công lý, những chuyên gia có khả năng đóng góp vào sự phát triển của đất nước. Đó mới là thước đo thực sự của chất lượng giáo dục đại học.

Đề xuất siết điều kiện đào tạo các ngành y và luật vì thế là một dịp để nhìn nhận lại con đường phát triển của giáo dục đại học Việt Nam. Tự chủ vẫn phải được tiếp tục mở rộng, bởi đó là động lực của đổi mới sáng tạo. Nhưng tự chủ chỉ có ý nghĩa khi được đặt trên nền tảng của chất lượng, trách nhiệm và sự minh bạch. Một nền giáo dục đại học hiện đại là nền giáo dục trong đó các cơ sở đào tạo được trao quyền phát triển tối đa nhưng đồng thời phải chịu trách nhiệm đến cùng về những cam kết của mình. Với những ngành nghề liên quan trực tiếp đến sức khỏe con người và công lý xã hội, yêu cầu ấy càng phải tuân thủ nghiêm. Đó không chỉ là yêu cầu của ngành giáo dục mà còn là trách nhiệm đối với tương lai phát triển bền vững của quốc gia.