Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu
Một ngày sau khi quân ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ, ngày 8-5-1954, trong thư khen bộ đội, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào Tây Bắc, Bác Hồ đã viết: Quân ta đã giải phóng Điện Biên Phủ... Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu.
Tham dự Hội nghị lần thứ 6 (mở rộng), Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II, ngày 15-7-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc báo cáo quan trọng gồm hai phần: Tình hình mới và nhiệm vụ mới. Ở phần tình hình mới, sau khi giới thiệu thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, thái độ của Mỹ đối với Hội nghị Geneva, Người khẳng định: Mỹ là kẻ thù chính của hòa bình thế giới... Mỹ đang biến thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Việt, Miên, Lào. Từ đó, Người xác định nhiệm vụ mới: Bất kỳ hòa bình hay chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước.
Ngày 19-9-1954, trong buổi gặp mặt, nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên Phong (Sư đoàn 308, Quân đoàn 1) trước khi về tiếp quản Thủ đô Hà Nội tại Đền Giếng trong Khu di tích Đền Hùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước...
 |
| Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua lần thứ IV, năm 1966. Ảnh tư liệu |
Trong bối cảnh đất nước chia làm hai miền, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng nêu lên đường lối chiến lược là phải đồng thời tiến hành hai nhiệm vụ: Xây dựng miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, tiếp tục hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. Cả hai nhiệm vụ ấy đều nhằm mục tiêu chung là củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, thiết thực tăng cường hệ thống xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Đông Nam châu Á và thế giới.
Cả nước quyết tâm chống Mỹ, cứu nước
Sau thất bại của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" (1961-1965), từ giữa năm 1965, Mỹ chuyển sang "Chiến tranh cục bộ" ở miền Nam Việt Nam.
Mỹ đã đưa hàng chục vạn quân viễn chinh Mỹ và quân đồng minh trực tiếp tham chiến. Đến giữa năm 1966, số quân Mỹ và đồng minh tại miền Nam đã lên tới khoảng 300.000 quân và tiếp tục tăng nhanh, chúng tiến hành các cuộc hành quân "tìm diệt", "bình định" ở khắp miền Nam. Với binh lực và hỏa lực hiện đại, ưu thế quân sự áp đảo, người Mỹ tin rằng họ sẽ nhanh chóng giành thắng lợi ở miền Nam.
Trong khi đó, quân Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc. Từ ngày 5-8-1964, Mỹ bắt đầu dùng máy bay đánh phá miền Bắc; đến năm 1965-1966, cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân được mở rộng với quy mô ngày càng lớn.
Quân Mỹ đã ném bom nhiều thành phố, khu công nghiệp, cầu cống, trường học. Máy bay Mỹ tập trung đánh phá quyết liệt hệ thống giao thông nhằm cắt đứt tuyến chi viện cho miền Nam. Quân Mỹ ngạo mạn tuyên bố: Đưa miền Bắc trở lại thời kỳ đồ đá và hy vọng buộc miền Bắc phải ngừng ủng hộ cách mạng miền Nam.
Tuy nhiên, với tinh thần “Tay cày, tay súng”, “Tay búa, tay súng”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, miền Bắc vẫn giữ vững sản xuất, kiên cường chiến đấu và tiếp tục làm hậu phương lớn cho tiền tuyến.
Đến giữa năm 1966, nhân dân Việt Nam giành nhiều thắng lợi quan trọng. Đã đánh bại nhiều cuộc hành quân lớn của quân Mỹ; tiếp tục giữ vững và mở rộng vùng giải phóng ở miền Nam. Quân dân miền Bắc bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, bảo vệ các tuyến giao thông chiến lược, tiếp tục chi viện hiệu quả sức người, sức của cho chiến trường miền Nam. Những thắng lợi đó đã làm phá sản mục tiêu "đánh nhanh, thắng nhanh" của đế quốc Mỹ.
Năm 1966, Chính quyền Mỹ vừa leo thang chiến tranh vừa tìm cách gây sức ép ngoại giao. Họ tuyên bố "sẵn sàng đàm phán" với Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, nhưng không chấm dứt ném bom miền Bắc; không rút quân khỏi miền Nam; trái lại còn tiếp tục tăng quân và mở rộng chiến tranh.
Trước thái độ ngang ngược của quân Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng ta tiếp tục khẳng định lập trường: Mỹ phải chấm dứt vô điều kiện việc ném bom miền Bắc; phải tôn trọng quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam theo Hiệp định Geneva năm 1954 và phải để nhân dân Việt Nam tự quyết định tương lai của mình.
Ngày 17-7-1966, qua làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước. Người nói: Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!
Người cũng chỉ ra cách giải quyết cuộc chiến tranh ở Việt Nam: Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam, phải rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi Việt Nam thì hòa bình sẽ trở lại ngay lập tức.
Trong lời kêu gọi, Người tin tưởng: Trước đây, trong hoàn cảnh khó khăn hơn nhiều, mà chúng ta đã thắng phát xít Nhật và thực dân Pháp. Ngày nay, điều kiện trong nước và trên thế giới thuận lợi cho ta hơn, sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta càng chắc chắn sẽ hoàn toàn thắng lợi.
Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bản tuyên ngôn về ý chí độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, đã một lần nữa khẳng định quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng của nhân dân ta, kịp thời cổ vũ tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường, bất khuất của toàn dân tộc. Lời kêu gọi khẳng định tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đồng thời tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới. Chính vì vậy, 60 năm qua, lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn như một hồi kèn xung trận, thôi thúc và có giá trị soi đường để nhân dân ta tiếp tục khẳng định chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, trở thành phương châm hành động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.