Ngay từ những năm 20 của thế kỷ XIX, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định trọn đời cống hiến theo lý tưởng của người thầy vĩ đại Lênin: “Khi còn sống, Người là người cha, thầy học, đồng chí và cố vấn của chúng ta. Ngày nay, Người là ngôi sao sáng chỉ đường cho chúng ta đi tới cuộc cách mạng xã hội. Lênin bất diệt sẽ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta” ([1]).

Kế tục truyền thống yêu nước, thương dân và ý chí đấu tranh của ông cha, ngày 5-6-1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã rời cảng Sài Gòn, bắt đầu một hành trình dài tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc.

Tháng 7-1920, được đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin, đăng trên báo L’Humanite số 16 và 17-7, Người như bừng tỉnh: Chân lý là đây, hạnh phúc đây rồi! Ngồi một mình trong phòng kín mà Người như đang nói to trước đồng bào bị đầy đọa đau khổ: "Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta".

Cũng là đêm không ngủ, nhưng không còn là đêm thao thức, mà đã là đêm thanh thản. Sau 9 năm tìm kiếm, Nguyễn Ái Quốc đã nhận được ánh sáng tư tưởng vĩ đại của Lênin về cách mạng của các dân tộc thuộc địa, dù ánh sáng tư tưởng ấy chỉ mới từ trang giấy. Lênin! Cách mạng tháng Mười! Liên Xô! Tương lai xán lạn biết bao mở ra trong trí tưởng tượng của Người đang khát vọng. 

Ảnh: dangcongsan.vn

Tiếp thu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng cứu nước và giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc có sự chuyển biến về chất. Người trở thành một chiến sĩ cộng sản đấu tranh cho hòa bình, độc lập, tự do không chỉ của dân tộc, mà còn là nhân loại. Quả là cả một hành trình lớn lên, như sau này Người nhìn nhận: “... cá nhân tôi, từ lúc đầu nhờ được học tập truyền thống cách mạng oanh liệt và được rèn luyện trong thực tế đấu tranh anh dũng của công nhân và của Đảng Cộng sản Pháp, mà tôi đã tìm thấy chân lý Chủ nghĩa Mác-Lênin, đã từ một người yêu nước tiến bộ thành một chiến sĩ xã hội chủ nghĩa...” ([2]).

Một dấu ấn không thể quên, cũng là một đích đến trên cuộc hành trình dài dằng dặc ấy là, trong gió tuyết tháng Giêng Mátxcơva năm 1924, cùng với người dân Liên Xô và những người cộng sản khắp nơi trên thế giới, Nguyễn Ái Quốc đã tham dự lễ tang Lênin, người thầy bao nhiêu lần Người ước ao được gặp mặt. Và chỉ sáu ngày sau khi Lênin từ trần, người dân Mátxcơva đã được đọc bài báo của đồng chí Nguyễn Ái Quốc trên Báo Pravda (ngày 27-1-1924) với tựa đề "Lênin và các dân tộc thuộc địa". Bài báo chỉ vỏn vẹn hai trang giấy, thấm đậm lòng tiếc thương vô hạn nhưng tràn đầy quyết tâm, lòng tin vào thắng lợi của những lời di chúc của vị lãnh tụ nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới.

Bài báo cũng như một lời thề trung thành của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Lênin. Kể từ đây, Chủ nghĩa Lênin đã trở thành sợi chỉ xuyên suốt cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho đến khi Người từ trần. Mặc dù thời gian lưu lại không dài (16 tháng), nhưng thời gian hoạt động ở Matxcơva giai đoạn 1923-1924 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ đối với cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, mà cả đối với phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam.

Hơn 20 năm sau lần đầu tiên đến với đất nước của Lênin, năm 1955, Hồ Chí Minh trên cương vị là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã cùng Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam sang thăm hữu nghị chính thức Liên Xô lần đầu tiên, mở ra trang sử hữu nghị và đoàn kết quốc tế giữa hai Đảng và hai dân tộc anh em.


[1] Báo Pravda, tiếng Nga, ngày 27-1-1924

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H.2021, t.10, tr.241