Một văn kiện của Đảng chỉ thực sự hoàn thành sứ mệnh khi những mục tiêu đặt ra được chuyển hóa thành kết quả cụ thể, tạo nên những đổi thay tích cực trong đời sống kinh tế-xã hội và mang lại lợi ích thiết thực cho đất nước, cho nhân dân. Tinh thần đó được thể hiện nhất quán trong các văn kiện của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV. Bên cạnh việc xác định những chủ trương lớn nhằm tạo động lực cho giai đoạn phát triển mới, Trung ương đồng thời đặt ra yêu cầu phải nâng cao chất lượng tổ chức thực hiện, tăng cường theo dõi, đánh giá kết quả, kịp thời hoàn thiện cơ chế, chính sách và bảo đảm mọi quyết sách đều hướng tới mục tiêu phát triển nhanh, bền vững. Điều đó cho thấy, giá trị của nghị quyết, kết luận phải được khẳng định bằng hiệu quả mang lại trong thực tiễn.

Thực tiễn vì thế không chỉ là nơi triển khai chủ trương mà còn là "thước đo" của năng lực lãnh đạo, năng lực quản trị và chất lượng chính sách. Một chủ trương đúng phải tạo được chuyển biến trong sản xuất, kinh doanh; mở rộng không gian phát triển; nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân; củng cố quốc phòng, an ninh; tăng cường đối ngoại và nâng cao vị thế đất nước.

 Ảnh minh họa: VGP  

Bởi vậy, đánh giá hiệu quả của nghị quyết cần đặt trong bức tranh phát triển chung của đất nước. Một môi trường đầu tư thông thoáng hơn, một nền hành chính phục vụ tốt hơn, một địa phương phát triển năng động hơn, một doanh nghiệp có thêm điều kiện mở rộng sản xuất hay một người dân được thụ hưởng nhiều hơn từ các chính sách phát triển đều là những biểu hiện cụ thể của hiệu quả thực hiện chủ trương. Khi những chuyển biến ấy diễn ra đồng bộ và ngày càng rõ nét, nghị quyết sẽ thực sự đi vào cuộc sống.

Các nghị quyết, kết luận của Hội nghị Trung ương 3 đều hướng tới những mục tiêu cụ thể, hướng đến những kết quả thực chất nên việc đánh giá hiệu quả thực hiện nghị quyết cũng cần được nhìn nhận trên những tiêu chí thực chất. Không chỉ quan tâm đến số lượng chương trình, kế hoạch đã ban hành hay tiến độ hoàn thành từng nhiệm vụ, điều quan trọng hơn là những chủ trương đó đã tạo ra tác động gì đối với sự phát triển.

Thực tiễn luôn vận động và yêu cầu phát triển không ngừng đặt ra những nhiệm vụ mới. Vì vậy, mỗi kết quả đạt được không phải là điểm kết thúc của một quá trình mà là nền tảng để mở ra một chặng phát triển tiếp theo. Những thành tựu đạt được tạo thêm niềm tin và động lực để tiếp tục đổi mới; những vấn đề còn tồn tại trở thành cơ sở để bổ sung, hoàn thiện chủ trương, chính sách. Chính sự vận động liên tục ấy làm nên sức sống của đường lối cách mạng Việt Nam-luôn xuất phát từ thực tiễn, được kiểm nghiệm trong thực tiễn và tiếp tục phát triển từ chính thực tiễn.

Thực tiễn không chỉ ghi nhận những kết quả đạt được mà còn phản ánh năng lực biến chủ trương thành động lực phát triển. Một quyết sách đúng sẽ mở ra không gian phát triển mới; một cơ chế phù hợp sẽ khơi dậy tiềm năng của các địa phương, doanh nghiệp và người dân; một chính sách sát thực tiễn sẽ tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia. Đó chính là giá trị bền vững của nghị quyết khi được hiện thực hóa bằng những chuyển biến cụ thể trong đời sống.

Ở chiều ngược lại, thực tiễn cũng là nơi chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện. Những mục tiêu chưa đạt như mong muốn, những lĩnh vực phát triển còn chậm hay những yêu cầu mới nảy sinh trong quá trình hội nhập và phát triển đều đặt ra đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế và nâng cao chất lượng lãnh đạo, quản lý. Điều đó không làm giảm giá trị của nghị quyết mà ngược lại khẳng định tinh thần cầu thị, khoa học và đổi mới của Đảng trong quá trình lãnh đạo đất nước.

Thực tiễn luôn vận động, vì vậy quá trình phát triển cũng không có điểm dừng. Mỗi kết quả đạt được sẽ mở ra những yêu cầu mới, đòi hỏi những quyết sách mới phù hợp hơn với bối cảnh mới. Đó cũng là quy luật phát triển của một đảng cầm quyền luôn lấy thực tiễn làm điểm xuất phát, lấy hiệu quả phục vụ đất nước và nhân dân làm mục tiêu, đồng thời coi những thành tựu và bài học từ thực tiễn là cơ sở để tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối lãnh đạo.

Các văn kiện của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ giải quyết những yêu cầu trước mắt mà còn mở ra không gian phát triển trong thời gian tới. Khi các chủ trương được hiện thực hóa bằng những chuyển biến rõ nét trong phát triển kinh tế-xã hội, bằng một nền quản trị quốc gia ngày càng hiện đại, hiệu lực, hiệu quả và bằng cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn của nhân dân, đó cũng là minh chứng rõ nhất cho sức sống của đường lối, chủ trương, năng lực lãnh đạo của Đảng và cho khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, phồn vinh và hạnh phúc.

Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: "Phải thường xuyên lắng nghe nhân dân, doanh nghiệp, trí thức, chuyên gia, cán bộ cơ sở; coi phản hồi thực tiễn là kênh kiểm chứng chính sách. Khi vướng mắc phát sinh trên diện rộng, phải xem xét đồng thời trách nhiệm thực hiện và bất cập của cơ chế; không quy mọi hạn chế cho cơ sở, cũng không lấy chính sách để bao biện cho yếu kém... Giá trị của nghị quyết phải thể hiện ở chất lượng sống, cơ hội phát triển, sự an toàn, niềm tin và hạnh phúc của nhân dân".