Từ khoa bảng Nho học đến nhà báo yêu nước công khai
Sự chuyển biến của cụ từ một bậc đại khoa bảng sang một nhà báo chính luận yêu nước là minh chứng cho sự tự vận động mãnh liệt của trí thức Việt Nam trước sự sụp đổ của ý thức hệ phong kiến và sự xâm lăng của chủ nghĩa thực dân. Đây không đơn thuần là sự thay đổi vai trò xã hội, mà là một cuộc cách mạng tư tưởng triệt để: Rũ bỏ tư duy “trung quân” hủ bại để vươn tới lý tưởng “ái quốc” gắn liền với “dân quyền” và “dân sinh”.
Huỳnh Thúc Kháng sinh ngày 1-10-1876 tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Thạnh Bình, TP Đà Nẵng). Cụ xuất thân trong gia đình nhà nho nghèo nhưng giàu truyền thống hiếu học. Sớm bộc lộ trí thông minh thiên bẩm, cụ đạt thành tích khoa bảng rực rỡ: Đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương năm 1900 và đỗ Tiến sĩ năm 1904.
 |
Đại biểu tham quan trưng bày chuyên đề “Nhà chí sĩ, nhà báo Huỳnh Thúc Kháng: Trọn đời vì nước, vì dân” tại tỉnh Thái Nguyên, tháng 9-2026. Ảnh: SƠN HẢI
|
Tuy nhiên, đứng trước cánh cửa quan lộ thênh thang, vị tân khoa trẻ tuổi đã đưa ra một quyết định không ra làm quan. Quyết định này xuất phát từ một nhãn quan chính trị sắc sảo, nhận thấy bộ máy chính quyền đương thời chỉ còn là cái bóng của thực dân Pháp, không còn đủ sức che chở cho dân tộc. Giai đoạn 1905-1908, cụ cùng các chí sĩ Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp khởi xướng phong trào Duy Tân. Tại Quảng Nam, cụ trực tiếp lãnh đạo việc lập trường học, hội buôn, làm thay đổi hẳn diện mạo xã hội và nâng cao ý thức dân quyền trong nhân dân. Đây là những bước đi đầu tiên của một nhà báo trong tương lai: Dùng lời nói và chữ nghĩa để lay chuyển nhận thức của đại chúng.
Năm 1908, phong trào chống thuế bùng nổ dữ dội tại Trung Kỳ. Thực dân Pháp lấy cớ đó để đàn áp các chí sĩ Duy Tân. Ngày 24-2-1908, Huỳnh Thúc Kháng bị bắt tại Quảng Nam. Cụ bị kết án “xử tử”, sau giảm xuống đày ra Côn Đảo từ năm 1908 đến 1921. Trong điều kiện lao dịch khổ sai, cụ vẫn duy trì tinh thần học tập bền bỉ. Cụ tự học tiếng Pháp để trực tiếp đọc sách báo phương Tây, nghiên cứu các học thuyết về tự do và dân chủ của Rousseau, Montesquieu.
Sau khi được trả tự do năm 1921, cụ Huỳnh trở về quê hương nhưng không chấp nhận sự an bài của số phận. Năm 1926, cụ đắc cử vào Viện Dân biểu Trung Kỳ và được cử làm Viện trưởng. Với cụ, nghị trường là một diễn đàn công khai để đòi quyền lợi cho nhân dân. Dựa trên các tư liệu lịch sử, có thể thấy tư tưởng “lập hiến” của cụ tại Viện Dân biểu rất tiến bộ. Cụ đề xuất phân định rạch ròi quyền hạn giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp; mở rộng quyền hạn của Viện Dân biểu từ tư vấn sang quyết định các vấn đề dân sinh; đặc biệt là đòi quyền bầu cử cho những người đóng thuế.
Tuy nhiên, trước sự can thiệp thô bạo và sự áp đặt của Khâm sứ Trung Kỳ, cụ nhận ra Viện Dân biểu chỉ là một thứ “trang sức” dân chủ của thực dân. Năm 1928, cụ Huỳnh Thúc Kháng từ chức Viện trưởng để phản đối chính quyền. Đây là bước ngoặt quyết định: Cụ rũ bỏ tấm áo nghị viên để khoác lên mình vai trò nhà báo toàn thời gian.
Báo Tiếng Dân mang dấu ấn lịch sử, văn hóa và khí tiết nhà báo
Ra đời vào ngày 10-8-1927 tại Huế, Báo Tiếng Dân không chỉ là tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên tại Trung Kỳ mà còn là một pháo đài tinh thần của nhân dân Việt Nam trong suốt 16 năm ròng rã. Trong bối cảnh kinh tế-xã hội miền Trung kiệt quệ vì sưu cao thuế nặng và sự kìm kẹp của mật thám, Báo Tiếng Dân hiện lên như một thực thể độc lập, không chịu khuất phục trước bất kỳ áp lực nào. Tư tưởng báo chí của cụ Huỳnh Thúc Kháng là sự kết tụ giữa nguyện vọng dân quyền, khí tiết nhà nho, tinh thần yêu nước và đạo đức nghề nghiệp trung thực, kiên cường.
 |
| Đại biểu tham dự hội thảo kỷ niệm 150 năm Ngày sinh nhà chí sĩ, nhà báo Huỳnh Thúc Kháng do Tỉnh ủy Thái Nguyên và Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức, tháng 9-2026. Ảnh: SƠN HẢI |
Báo chí đối với cụ Huỳnh là phương tiện để truyền bá tư tưởng yêu nước, nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí, cổ vũ dân quyền và đấu tranh trực diện với các chính sách cai trị hà khắc, mị dân. Với tổng cộng 1.766 số báo, Báo Tiếng Dân đã xác lập một kỷ lục về sự bền bỉ trong đấu tranh công khai, vượt xa mong đợi ban đầu của cụ là “đầu ra được 5, 7 số mà chết cũng vui lòng”. Cụ Huỳnh Thúc Kháng là hiện thân của một lớp trí thức được nuôi dưỡng trong Nho giáo và thấm nhuần Nho học, nhưng để đối phó với thái độ của thế hệ trẻ hơn từ chối hệ thống các giá trị, thể chế và tập tục của xã hội cổ truyền, lại là những người dùng báo chí, một hình thức thông tin công cộng của phương Tây, để tham gia vào cuộc tranh luận về việc hiện đại hóa và xây dựng đất nước.
Đứng trước chế độ kiểm duyệt nghiêm ngặt của Phủ Khâm sứ Trung Kỳ, cụ Huỳnh đã đúc kết những tuyên ngôn kinh điển về bản lĩnh và lòng tự trọng của người làm báo: “Nếu không có quyền nói tất cả những điều mình muốn nói thì ít ra cũng giữ lấy cái quyền không nói những điều người ta ép buộc nói” và “Vì rằng ta không có quyền tự do nói những điều nên nói, mà ta lại có quyền tự do không nói những cái không nên nói”.
Tờ Báo Tiếng Dân dưới sự dẫn dắt của cụ Huỳnh đã trở thành nơi tập hợp, kết nối nhiều thế hệ trí thức, sĩ phu yêu nước và các nhà cách mạng thuộc nhiều khuynh hướng (như Phan Bội Châu, Đào Duy Anh, Võ Nguyên Giáp, Hải Triều, Nguyễn Chí Diểu...), tạo nên một diễn đàn ngôn luận sôi nổi và có ảnh hưởng sâu rộng bậc nhất ở miền Trung thời bấy giờ. Tiếng Dân là một tờ báo đã gây sóng gió cho chính quyền thực dân, phong kiến, vì cụ Huỳnh Thúc Kháng không chịu làm bồi bút cho thực dân, cũng như cái loa cho Nam triều. Tiếng Dân đã giành được sự quý mến của quần chúng rộng rãi và để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng độc giả xứ Huế và cả nước.
Ngày 21-4-1947, cụ Huỳnh Thúc Kháng trút hơi thở cuối cùng tại Quảng Ngãi trên hành trình phụng sự Tổ quốc. Trước khi mất, cụ vẫn gửi điện văn tới Chủ tịch Hồ Chí Minh và kêu gọi đồng bào đoàn kết chiến đấu đến cùng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư báo tin buồn cho quốc dân với những lời trân trọng nhất: “Cụ Huỳnh là một người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao”. Theo tâm nguyện, nhân dân đã an táng cụ trên đỉnh núi Thiên Ấn, để cụ mãi mãi trông coi mảnh đất miền Trung anh dũng.