Một đời vì cách mạng

Mẹ Nguyễn Thị Trung, tên thật là Nguyễn Thị Diên, sinh năm 1912 tại xã Đà Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An (nay là xã Đô Lương, tỉnh Nghệ An). Sinh ra trong gia đình có truyền thống yêu nước, mẹ sớm giác ngộ cách mạng, tích cực tham gia các phong trào tại địa phương. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, mẹ hưởng ứng “Tuần lễ Vàng”, quyên góp áo quần cho bộ đội trong phong trào “Mùa đông binh sĩ”; tận tình chăm sóc, nuôi dưỡng thương binh, bệnh binh và tham gia các hoạt động kháng chiến, kiến quốc.

 Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Trung.

Đô Lương khi ấy là địa bàn có nhiều cơ quan, đơn vị của Liên khu 4 sơ tán, đóng quân. Ngôi nhà của mẹ trở thành một trong những cơ sở che chở, nuôi dưỡng cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 57, Nghệ An và các đơn vị lực lượng vũ trang. Mẹ âm thầm lo nơi ăn, chốn ở, chăm sóc cán bộ, chiến sĩ giữa những năm tháng chiến tranh gian khổ. Trong kháng chiến chống Mỹ, gia đình mẹ ở gần Truông Bồn, một trong những trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mỹ. Mẹ vẫn kiên quyết bám trụ quê hương, không đi sơ tán. Giữa mưa bom, bão đạn, mẹ tiếp tục đón, nuôi dưỡng, che chở và chăm sóc cán bộ, chiến sĩ các đơn vị, trong đó có bộ đội công binh, pháo cao xạ làm nhiệm vụ bảo vệ địa bàn.

Những đóng góp thầm lặng ấy góp phần cùng quân và dân địa phương bảo vệ quê hương, chi viện cho tiền tuyến. Với mẹ, đó là việc làm xuất phát từ tình cảm với cách mạng, với những người lính đang chiến đấu vì Tổ quốc.

Cuộc đời riêng của mẹ cũng trải qua nhiều mất mát. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mẹ lập gia đình nhưng người chồng sớm qua đời. Năm 1950, mẹ đi bước nữa, trở thành vợ kế của ông Nguyễn Xuân Thành, quê ở xã Đồng Văn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An (cũ). Năm 1952, mẹ sinh người con duy nhất là Nguyễn Xuân Trung. Khi Trung vừa lên 5 tuổi, ông Thành qua đời. Mẹ lại một mình tần tảo nuôi con, đồng thời chăm sóc cả người con của chồng là Nguyễn Xuân Trạch.

Nhắc về người em trai, ông Nguyễn Xuân Trạch tự hào: “Thời học sinh, Trung rất chăm học, năm nào cũng đứng đầu lớp, xếp loại giỏi. Riêng hai môn Văn và Toán, em luôn đạt thành tích cao. Em ấy được bạn bè yêu mến”.

Năm 1971, Nguyễn Xuân Trung lên đường nhập ngũ, được biên chế vào một đơn vị trinh sát độc lập của Trung đoàn 271, thuộc Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, đóng quân tại Đức Hòa, Long An. Từ ngày con trai xa nhà, những cánh thư trở thành sợi dây nối người lính nơi chiến trường với người mẹ ở hậu phương.

Những cánh thư gửi về

Trong thời gian chiến đấu, Nguyễn Xuân Trung nhiều lần viết thư về cho gia đình. Những lá thư chủ yếu là lời thăm hỏi, trao đổi công việc, tình hình sức khỏe, nhiệm vụ chiến đấu và động viên mẹ yên tâm, vượt qua khó khăn.

Di ảnh liệt sĩ Nguyễn Xuân Trung. 

Trong bức thư viết ngày 10-11-1971, anh viết: “Kể từ hôm con đi đến nay thế là hơn 20 ngày rồi, không biết từ ấy đến nay mẹ có khỏe không? Hôm đến con đã viết thư về mà chưa thấy gì cả. Có lẽ quê ta giờ đây đang thu hoạch mùa, không biết mẹ đã được chia bao nhiêu thóc, nếp? Có lẽ mùa màng ở ngoài ta cũng tương đối phải không mẹ? Vừa rồi ngoài ta có bị bão lụt không, lúa khoai các thứ có bị ảnh hưởng không?.... Con thì vẫn khỏe, đỡ hơn mấy bữa ở nhà. Kể từ nay con đã là một chiến sĩ Quân giải phóng hẳn hoi rồi”.

Giữa chiến trường, điều người lính trẻ nghĩ đến trước hết vẫn là mẹ và quê nhà. Anh hỏi mẹ có khỏe không, mùa màng thế nào, lúa khoai có bị lũ lụt ảnh hưởng hay không. Những điều bình dị ấy cho thấy tình cảm sâu nặng của người con luôn hướng về gia đình.

Bức thư ngày 13-12-1971 lại bắt đầu bằng lời gọi thân thương: “Mẹ thương nhớ của con”. Viết giữa rừng Trường Sơn, khi vừa tròn một năm quân ngũ, anh kể với mẹ về cuộc sống nơi chiến trường và không quên gửi lời chúc Tết: “Con lại viết thư này giữa rừng Trường Sơn đêm nay, chắc hôm nay, giữa quê nhà, mẹ cũng đang nghĩ nhiều về con, vì hôm nay con tròn 1 tuổi quân, mẹ sức khỏe dạo này thế nào?...”.

 

 

Những lá thư của liệt sĩ Nguyễn Xuân Trung gửi về gia đình. 

Những dòng thư mộc mạc ấy là món quà quý giá người con gửi về cho mẹ trong những năm tháng chiến tranh. Ở nơi đạn bom, anh vẫn nhớ căn nhà, mùa màng, người thân và người mẹ đã một mình nuôi mình khôn lớn.

Nhưng ngày trở về mà người con mong đợi đã không đến. Ngày 19-12-1972, trong một trận phục kích địch trên chiến trường Đức Hòa (Long An), Nguyễn Xuân Trung anh dũng hy sinh. Anh được bà con xóm An Ninh (Long An) khâm liệm và an táng tại địa phương.

Nhận giấy báo tử cùng những kỷ vật của người con trai ruột duy nhất gửi từ chiến trường về, mẹ Nguyễn Thị Trung như chết lặng. Bao năm tần tảo nuôi con, mẹ chỉ mong có ngày con trở về. Vậy mà chiến tranh đã mang người con ấy đi mãi mãi.

Những lá thư, chiếc ba lô, khăn tay và những vật dụng thân quen từng gắn bó với Trung từ đó trở thành kỷ vật thiêng liêng của mẹ. Mỗi nét chữ trên trang giấy lại gợi về người con trai mẹ đã chờ đợi suốt những năm chiến tranh.

Ghi nhận những đóng góp tích cực của mẹ Nguyễn Thị Trung, Nhà nước tặng thưởng mẹ Huy chương Kháng chiến hạng Nhì. Tháng 4-1995, mẹ vinh dự được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Năm 1993, mẹ chuyển về sống với anh Nguyễn Xuân Trạch tại xóm 15, xã Nghi Phú. Năm 1999, do tuổi cao, sức yếu, mẹ qua đời.

Rời ngôi nhà của mẹ trong làn gió thu hiu hắt, chúng tôi càng cảm nhận rõ hơn giá trị của những kỷ vật gia đình mẹ gửi lại Bảo tàng Quân khu 4. Đó không chỉ là những hiện vật của một thời chiến tranh, mà còn là chứng tích về tình mẫu tử, sự hy sinh và lòng yêu nước của một người mẹ Việt Nam. Mẹ đã đi xa, người con cũng không trở về, nhưng những cánh thư vẫn còn đó. Qua những trang giấy đã ngả màu, câu chuyện về Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Trung và người con liệt sĩ tiếp tục được kể lại, để ký ức về một thế hệ đã sống, chiến đấu và hy sinh vì Tổ quốc được gìn giữ cho mai sau.