Cuộc đời mẹ gắn liền với những năm tháng gian khổ của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và sự cống hiến lớn lao của cả gia đình cho cách mạng, trong đó 3 người con của mẹ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, năm 18 tuổi, mẹ lập gia đình với ông A Sor, người cùng tuổi, cùng làng. Vợ chồng mẹ có 9 người con, gồm 6 trai và 3 gái. Cuộc sống vốn nhiều khó khăn, và những năm tháng dưới ách thống trị của thực dân và phong kiến tay sai càng khiến đồng bào nơi đây phải chịu biết bao cơ cực.

Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mẹ chứng kiến cảnh người dân bị áp bức bởi chính sách sưu cao, thuế nặng. Nhiều người phải lặn lội hàng tháng trời trong rừng sâu tìm ngà voi và các lâm thổ sản quý hiếm để cống nộp. Không ít người bỏ mạng giữa rừng thiêng, nước độc vì đói rét, bệnh tật; những người trở về không đủ sản vật để cống nộp thì bị đánh đập dã man. Chính sách bắt bớ, tù đày và áp bức của kẻ thù đã khiến nhiều gia đình ly tán, để lại nỗi đau dai dẳng trong lòng người dân.

 Bà mẹ Việt Nam anh hùng Y Đêm.

Cách mạng Tháng Tám thành công mở ra niềm hy vọng về một cuộc sống tự do. Tuy nhiên, khi thực dân quay trở lại xâm lược, nhân dân Đăk Môn tiếp tục bước vào cuộc kháng chiến mới. Được cán bộ tuyên truyền, vận động, mẹ cùng gia đình và bà con trong làng một lòng đi theo cách mạng, quyết tâm kháng chiến chống thực dân Pháp, rồi chống đế quốc Mỹ để giải phóng quê hương.

Suốt 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, gia đình mẹ là một trong những gia đình tiêu biểu của làng Rì Nầm về tinh thần đóng góp sức người, sức của cho cách mạng.

Gia đình đông con, điều kiện sản xuất còn nhiều khó khăn, vợ chồng mẹ phải tần tảo sớm hôm mới đủ cái ăn, cái mặc. Thế nhưng, khi cách mạng cần, mẹ luôn sẵn sàng sẻ chia những gì quý giá nhất của gia đình để nuôi giấu cán bộ và phục vụ kháng chiến. Mẹ thường căn dặn các con: “Thà cái bụng mình đói một chút để giúp cán bộ ăn no, có sức đánh thắng bọn giặc; rồi nhà mình, đồng bào mình sẽ được tự do. Cách mạng sẽ giúp mình có cái ăn no, có cái áo mặc”.

Xuất phát từ niềm tin son sắt ấy, ngay từ những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, mẹ không chỉ tích cực đóng góp lương thực mà còn vận động bà con bí mật vận chuyển lương thực vào rừng phục vụ lực lượng cách mạng.

Giai đoạn 1955-1959, khi địch thực hiện chính sách tố cộng, diệt cộng và khủng bố trắng, mẹ nhiều lần vận động nhân dân đoàn kết đấu tranh, đòi hòa bình, tự do và dân chủ. Trong điều kiện hoạt động vô cùng gian khổ, nhiều cán bộ được phân công bám địa bàn, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với nhân dân để xây dựng cơ sở cách mạng. Gia đình mẹ là địa chỉ tin cậy của nhiều cán bộ. Ngôi nhà nhỏ đơn sơ của mẹ từng là nơi cất giấu nhiều cán bộ lãnh đạo của tỉnh trong những năm tháng kháng chiến.

Danh hiệu cao quý “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” của mẹ Y Đêm. 

Chính quá trình gắn bó giữa cán bộ với nhân dân đã giúp mẹ càng thêm tin tưởng vào con đường cách mạng, đồng thời hun đúc truyền thống yêu nước trong các con. Từ sự giáo dục của mẹ về lòng yêu thương nhân dân, yêu Tổ quốc và tinh thần sẵn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc, cả 9 người con của mẹ đều lần lượt tham gia cách mạng. Trong số đó, 3 người con đã anh dũng hy sinh.

Người con cả là A Chương, sinh năm 1937, nhập ngũ năm 1967, chiến đấu tại một đơn vị đặc công. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 vào thị xã Kon Tum, anh được giao nhiệm vụ tấn công ty cảnh sát ngụy. Sau khi cùng đồng đội chiến đấu dũng cảm, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, A Chương đã anh dũng hy sinh.

Người con thứ hai là A Phương, sinh năm 1940, tham gia cách mạng từ năm 1959. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, anh lập nhiều thành tích xuất sắc nhờ tinh thần mưu trí, dũng cảm. Sau ngày đất nước thống nhất, A Phương tiếp tục phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam với quân hàm Trung tá tại Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Gia Lai - Kon Tum. Anh trực tiếp chỉ huy lực lượng tham gia chiến đấu chống quân Pol Pot xâm lược biên giới và thực hiện nghĩa vụ quốc tế trên đất Campuchia. Tháng 4-1979, trên đường đi công tác về, anh bị địch phục kích và hy sinh.

Người con thứ ba là A Giang, sinh năm 1945, tham gia cách mạng từ năm 1963. Tháng 4-1966, trong một trận chiến đấu chống địch càn quét vào khu căn cứ, anh bị trúng đạn và hy sinh tại Kon Tà Gỗ (H16), Kon Tum. 

Ba người con ngã xuống ở những thời điểm khác nhau của lịch sử, nhưng đều chung một lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc. Sự hy sinh ấy là minh chứng cho truyền thống cách mạng vẻ vang của gia đình mẹ Y Đêm cũng như của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên trong các cuộc kháng chiến.

Không chỉ có 3 người con là liệt sĩ, bản thân mẹ cũng dành trọn cuộc đời để đồng hành cùng cách mạng. Những đóng góp bền bỉ, thầm lặng của mẹ cùng gia đình đã góp phần xây dựng cơ sở cách mạng vững chắc tại địa phương, tiếp thêm sức mạnh cho cán bộ, chiến sĩ vượt qua những năm tháng chiến tranh ác liệt.

Ghi nhận những cống hiến to lớn của mẹ và gia đình, Đảng và Nhà nước đã tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Bằng Gia đình kháng chiến vẻ vang. Ngày 17-12-1994, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng mẹ danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

Cuộc đời của Bà mẹ Việt Nam anh hùng Y Đêm là biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, đức hy sinh và niềm tin son sắt vào cách mạng. Tên tuổi của mẹ cùng những người con anh dũng đã trở thành niềm tự hào của quê hương Đăk Môn, góp phần tô thắm truyền thống yêu nước, đoàn kết và kiên cường của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.