Theo nghị quyết, thôn, tổ dân phố là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư có chung địa bàn cư trú thuộc phạm vi một đơn vị hành chính cấp xã; là nơi thực hiện dân chủ trực tiếp và tổ chức để nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cũng như nhiệm vụ do chính quyền cấp xã giao.

Thôn được tổ chức ở xã, tổ dân phố được tổ chức ở phường. Đối với địa bàn có yếu tố đặc thù của Hà Nội, căn cứ điều kiện cư trú, lịch sử hình thành cộng đồng dân cư, mức độ đô thị hóa, quy hoạch, hạ tầng, phong tục, tập quán và yêu cầu quản lý, có thể tổ chức thôn trong phường hoặc tổ dân phố trong xã để phù hợp thực tiễn. Việc này phải được lấy ý kiến nhân dân, có ý kiến của Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng cấp và do HĐND cấp xã quyết định.

Nghị quyết quy định nguyên tắc tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố theo hướng tinh gọn, hợp lý, phù hợp quy mô dân cư và đặc điểm địa bàn; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; phát huy vai trò tự quản của cộng đồng dân cư, đồng thời tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động.

Các đại biểu HĐND TP Hà Nội bấm nút thông qua nghị quyết. Ảnh: NGUYỄN HỢP 

Về tổ chức bộ máy, mỗi thôn có trưởng thôn và phó trưởng thôn; mỗi tổ dân phố có tổ trưởng tổ dân phố và phó tổ trưởng tổ dân phố. Căn cứ quy mô số hộ gia đình, đặc điểm địa bàn và khối lượng công việc, mỗi thôn, tổ dân phố được bố trí từ 1 - 2 phó trưởng thôn hoặc phó tổ trưởng tổ dân phố.

Cụ thể, đối với thôn có từ 800 gia đình trở lên, tổ dân phố có từ 1.000 hộ gia đình trở lên; thôn, tổ dân phố thuộc đơn vị hành chính cấp xã trọng điểm về quốc phòng, an ninh, trật tự hoặc thôn đặc biệt khó khăn được bố trí tối đa 2 phó trưởng thôn hoặc phó tổ trưởng tổ dân phố. Các trường hợp còn lại được bố trí 1 người.

Nhiệm kỳ của trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố là 5 năm; nhiệm kỳ của phó trưởng thôn, phó tổ trưởng tổ dân phố theo nhiệm kỳ của người đứng đầu.

Nghị quyết quy định người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố gồm các chức danh: Trưởng thôn hoặc tổ trưởng tổ dân phố; Bí thư chi bộ; Trưởng ban công tác mặt trận; phó trưởng thôn hoặc phó tổ trưởng tổ dân phố. Số lượng người hoạt động không chuyên trách ở mỗi thôn, tổ dân phố không quá 5 người.

Theo nghị quyết, căn cứ mức quỹ phụ cấp theo quy định của Chính phủ, thẩm quyền đặc thù của thành phố theo Luật Thủ đô và yêu cầu quản lý, ngân sách thành phố, sẽ bố trí phần kinh phí tăng thêm để bảo đảm quỹ phụ cấp hằng tháng đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố cao hơn mức chung.

Đối với thôn có từ 800 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố có từ 1.000 hộ gia đình trở lên; địa bàn trọng điểm về quốc phòng, an ninh, trật tự hoặc thôn đặc biệt khó khăn, quỹ phụ cấp hằng tháng bằng 12 lần mức lương cơ sở. Trong đó, Bí thư chi bộ và trưởng thôn hoặc tổ trưởng tổ dân phố hưởng mức phụ cấp bằng 2,8 lần mức lương cơ sở; Trưởng ban công tác mặt trận 2,4 lần; phó trưởng thôn hoặc phó tổ trưởng tổ dân phố 2 lần mức lương cơ sở/người, áp dụng tối đa với 2 người.

Đối với các thôn, tổ dân phố còn lại, quỹ phụ cấp hằng tháng bằng 9 lần mức lương cơ sở. Cơ cấu phụ cấp gồm: Bí thư chi bộ và trưởng thôn hoặc tổ trưởng tổ dân phố bằng 2,5 lần mức lương cơ sở; Trưởng ban công tác mặt trận 2,15 lần; 1 phó trưởng thôn hoặc phó tổ trưởng tổ dân phố hưởng 1,85 lần mức lương cơ sở.

Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố được kiêm nhiệm không quá 1 chức danh khác và được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm bằng 100% mức phụ cấp của chức danh kiêm nhiệm. Đồng thời, các đối tượng này được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế và các chế độ, chính sách khác theo quy định hiện hành.

Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2026. Kể từ thời điểm này, một số nội dung của Nghị quyết số 18/2023/NQ-HĐND của HĐND TP Hà Nội liên quan đến chế độ, chính sách đối với phó trưởng thôn, phó tổ trưởng tổ dân phố hết hiệu lực thi hành.