Nội dung này được nêu tại Dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Tiết kiệm, chống lãng phí, do Bộ Tài chính chủ trì xây dựng.

Dự kiến quy định này áp dụng với các tổ chức chính trị, cơ quan nhà nước; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đơn vị lực lượng vũ trang; đơn vị sự nghiệp công lập; doanh nghiệp nhà nước; cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong khu vực nhà nước; doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có liên quan đến công tác tiết kiệm, chống lãng phí.

Ngoài các hành vi gây lãng phí được quy định tại Điều 4 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí, Bộ Tài chính đề xuất thêm các hành vi gây lãng phí khác thuộc một số nhóm, lĩnh vực sau:

Nhóm, lĩnh vực

Hành vi gây lãng phí

 

 

Hành vi gây lãng phí trong quản lý, sử dụng tài chính công, bao gồm:

a) Ấn định thuế không dựa trên các nguyên tắc quản lý thuế, căn cứ tính thuế, phương pháp tính thuế theo quy định của pháp luật về thuế, pháp luật về hải quan, gây lãng phí;

b) Xác định không đúng căn cứ tính thu thuế, áp dụng không đúng quy định về ưu đãi thuế trong quá trình thanh tra, kiểm tra, gây lãng phí;

c) Thực hiện miễn, giảm thuế, hoàn thuế, xóa tiền thuế nợ không đúng đối tượng, không đủ điều kiện theo quy định, gây lãng phí;

d) Không áp dụng các biện pháp cưỡng chế thuế theo quy định, gây lãng phí.

 

 

 

 

 

 

 

 

Hành vi gây lãng phí trong tổ chức bộ máy và quản lý, sử dụng lao động trong khu vực nhà nước, bao gồm:

a) Thành lập, tổ chức lại cơ quan, tổ chức, đơn vị không đảm bảo điều kiện, tiêu chí, trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của pháp luật, gây lãng phí;

b) Bố trí số lượng cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, cấp phó của người đứng đầu phòng thuộc cơ quan, tổ chức, đơn vị vượt mức quy định;

c) Tuyển dụng công chức, tiếp nhận vào làm công chức không đúng thẩm quyền, không căn cứ vào tỷ lệ công chức cần bố trí theo vị trí việc làm, chỉ tiêu biên chế và yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển, gây lãng phí;

d) Điều động, luân chuyển, biệt phái công chức không căn cứ vào năng lực của công chức, nhu cầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị, gây lãng phí;

đ) Bổ nhiệm công chức lãnh đạo quản lý, viên chức quản lý không phù hợp với tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm theo quy định của pháp luật;

e) Tuyển dụng viên chức không đúng thẩm quyền, không căn cứ vào nhu cầu thực tế, vị trí việc làm, quỹ tiền lương và nguồn thu hợp pháp khác của đơn vị sự nghiệp công lập, gây lãng phí;

g) Đào tạo, bồi dưỡng không căn cứ vào vị trí việc làm gắn với công tác sử dụng, quản lý công chức phù hợp với kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và nhu cầu xây dựng, phát triển nguồn nhân lực;

h) Giao biên chế không phù hợp với quy định pháp luật về căn cứ xác định biên chế công chức, gây lãng phí;

i) Áp dụng chính sách tuyển chọn, thu hút, trọng dụng người có tài năng làm việc trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý không đúng quy định của pháp luật, gây lãng phí;

k) Ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ của công chức không đúng thẩm quyền, tiêu chuẩn, điều kiện, loại hợp đồng và thời hạn ký kết hợp đồng theo quy định, gây lãng phí;

1) Ký hợp đồng lao động, hợp đồng dịch vụ không phù hợp với tính chất, yêu cầu nhiệm vụ, nguồn tài chính và nhu cầu về nguồn nhân lực của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định, gây lãng phí;

m) Ký hợp đồng làm việc với viên chức không phù hợp với quy định của pháp luật, gây lãng phí.

Hành vi cố ý đầu tư xây dựng, quản lý, sử dụng tài sản công, vốn đầu tư công không đúng quy định dẫn đến kéo dài thời gian, tiến độ thực hiện dự án so với thời gian, tiến độ đã được phê duyệt ban đầu.

Hành vi gây lãng phí trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, năng lượng, bao gồm:

a) Khai thác nước vượt hạn ngạch đã được cơ quan thẩm quyền quyết định gây ra hạn hán, thiếu nước;

b) Phê duyệt kết quả lựa chọn nhà đầu tư dự án có sử dụng đất không đảm bảo điều kiện về năng lực dẫn đến đất để thực hiện dự án đầu tư không được sử dụng hoặc tiến độ sử dụng đất chậm so với thời hạn ghi trong dự án đầu tư, thuộc trường hợp phải thu hồi đất theo quy định pháp luật đất đai.