Mô hình “Trạm học tập” cho mọi lứa tuổi

Trước khi chuyển sang Đại học Columbia để xây dựng chương trình tiếng Việt cho Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đông Á của Đại học Columbia, chị Nguyễn Phương Chung có nhiều năm giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ở Việt Nam, từ sinh viên đại học, nhân viên ngoại giao, nhân viên các tổ chức quốc tế, cũng như con em kiều bào ở nước ngoài trở về.

Chị kể: “Một trong những câu hỏi mà các học viên thường hỏi tôi khi đó là: 'Em là người Việt hay là người Mỹ? Em là người Việt hay là người Australia?'. Câu hỏi này lại tiếp tục quay lại với tôi khi tôi bắt đầu chương trình giảng dạy tại Đại học Columbia và sinh viên hỏi tôi: 'Em là ai trong dòng chảy của hai nền văn hóa?'”. Từ cách quan sát thực tế, chị Chung thấy rằng, người học không chỉ tìm đến tiếng Việt để học ngôn ngữ, mà còn đang tìm lại bản sắc cội nguồn của chính mình.

Chị Nguyễn Phương Chung cho rằng, người học không chỉ tìm đến tiếng Việt để học ngôn ngữ, mà còn đang tìm lại bản sắc cội nguồn của chính mình. Ảnh: NGỌC MINH

Theo chị Chung, Mỹ là nơi có cộng đồng người Việt lớn với khoảng 2 triệu người. Tại New York và các vùng lân cận, nhu cầu học tiếng Việt và giữ gìn tiếng mẹ đẻ trong cộng đồng rất lớn, trong đó có đông sinh viên là thế hệ kiều bào thứ ba. Quá trình làm việc với các sinh viên giúp chị Chung hiểu rõ hơn nhu cầu, mong muốn của cộng đồng người Việt tại thành phố New York và các khu vực lân cận. Nhiều phụ huynh mong muốn con em mình biết tiếng Việt nhưng lại thiếu môi trường học tập phù hợp. Trong khi đó, các lớp học cộng đồng thường có số lượng học viên lớn, đa dạng về độ tuổi, trình độ và cũng như mục đích học tập.

Xuất phát từ thực tế này và nhu cầu tại nơi chị sinh sống và làm việc, vào năm 2025, chị đã phối hợp với Phái đoàn Ngoại giao Việt Nam tại Liên hợp quốc xây dựng chương trình giảng dạy tiếng Việt dành cho con em người Việt tại New York và các khu vực lân cận. Điều mới của chương trình này là không áp dụng một mô hình chung cho tất cả học viên, mà là chương trình linh hoạt theo nhu cầu của từng nhóm người học, và được gọi là "Trạm học tập". Chị không xây dựng các học liệu xoay quanh từ vựng hay ngữ pháp, mà đi theo phương pháp giảng dạy thiết kế theo các nhiệm vụ gắn với trải nghiệm thực tế như việc kể lại câu chuyện của gia đình, phỏng vấn người thân, tìm hiểu lịch sử của chính cộng đồng của mình.

Chị Chung chia sẻ: “Tôi chia các trạm học tập này theo lứa tuổi: Từ 5 đến 7 tuổi; từ 9 đến 11 tuổi; từ 12 đến 16 tuổi. Mỗi trạm học tập được thiết kế các hoạt động phù hợp với lứa tuổi cũng như nhu cầu của học viên. Với trẻ nhỏ, tôi tổ chức các hoạt động thông qua trò chơi, kể chuyện và vận động. Với nhóm học viên lớn hơn, tôi yêu cầu các bạn tham gia các dự án kết nối về gia đình, văn hóa và giao tiếp. Bên cạnh đó, tôi khuyến khích phụ huynh đồng hành trong suốt quá trình học tập của con”.

Những trái ngọt đong đầy vị quê hương

Trong quá trình giảng dạy tiếng Việt ở nước ngoài, chị Chung và các đồng nghiệp gặp rất nhiều khó khăn. Ngoài khó khăn về đối tượng học đa dạng, các em đến từ nhiều khu vực, việc phát triển học liệu như thế nào để phù hợp cho từng đối tượng khác nhau cũng là khó khăn không nhỏ.

“Mỗi đối tượng có nhu cầu học khác nhau. Có những em có thể giao tiếp ở mức độ cơ bản nhưng không biết đọc, biết viết; có những em chỉ muốn học nói để có thể kết nối với ông bà ở Việt Nam. Có những em chưa bao giờ đến Việt Nam nên học tiếng Việt để đến xem đất nước đã thay đổi như thế nào. Do đó, chúng tôi phải xây dựng nhiều học liệu sao cho phù hợp với nhu cầu của từng học viên”, chị Chung giải thích.

Chị Nguyễn Phương Chung chia sẻ 3 bài học kinh nghiệm trong quá trình triển khai mô hình “Trạm học tập”, tại Lễ tổng kết Ngày Tôn vinh tiếng Việt trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài năm 2026, diễn ra ngày 12-8 tại Hà Nội. Ảnh: THÀNH LONG

Vượt qua mọi khó khăn, kết quả của mỗi khóa học tiếng Việt là những trái ngọt đong đầy vị quê hương. Có bạn sinh viên gửi tin nhắn tới chị tâm sự rằng, lần đầu tiên bạn ấy có thể nói chuyện tiếng Việt với mẹ trong 45 phút và rất hạnh phúc vì làm được điều đó. Nhiều học viên chia sẻ rằng, ở nhà, các bạn cố gắng nói chuyện bằng tiếng Việt với ông bà, hỏi về lịch sử gia đình, chia sẻ ước mơ, dự định trong tương lai. Sau mỗi lần như vậy, các học viên khẳng định rằng mình là người Việt Nam và cần được kết nối nhiều hơn với văn hóa và nguồn cội của mình.

Tin tưởng giữ gìn và phát triển tiếng Việt tiếp tục là sứ mệnh của mình trong thời gian tới, chị Chung chia sẻ 3 bài học kinh nghiệm trong quá trình triển khai mô hình “Trạm học tập”. Trước hết, gia đình là môi trường quan trọng nhất để duy trì tiếng Việt. Lớp học chỉ tạo động lực, còn việc sử dụng tiếng Việt hằng ngày cần được bắt đầu với những cuộc trò chuyện trong gia đình. Chính vì vậy, sau mỗi buổi học, chị thường giao bài tập tùy theo lứa tuổi của học viên và học viên phải hoàn thành bài tập đó với gia đình của mình.

Chị cũng cho rằng, không có một mô hình giảng dạy nào phù hợp cho tất cả cộng đồng. Mỗi chương trình cần được thiết kế dựa trên đặc điểm của địa phương, độ tuổi và nhu cầu của người học.

Cuối cùng, muốn tiếng Việt phát triển bền vững, cần xây dựng một hệ sinh thái tiếng Việt. Trong hệ sinh thái đó, trường đại học là nơi nghiên cứu và đào tạo; giáo viên là người truyền cảm hứng; và học liệu số là công cụ kết nối các cộng đồng người Việt trên toàn thế giới.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc giữ gìn tiếng Việt không thể chỉ dựa vào tình yêu ngôn ngữ, mà cần những mô hình giáo dục phù hợp cho từng cộng đồng, sự đồng hành của gia đình, sự kết nối giữa các tổ chức và một mạng lưới giáo viên cùng chia sẻ trách nhiệm. “Thời gian tới, con đường mà tôi mong muốn tiếp tục theo đuổi, đó là xây dựng một hệ sinh thái để tiếng Việt được giao tiếp trong mỗi gia đình, được trao truyền giữa các thế hệ, kết nối giữa các cộng đồng người Việt ở nước ngoài và lan tỏa đến bạn bè quốc tế”, chị Chung bày tỏ.