Những ngày còn nhỏ ở Thanh Bình, tôi thường được cùng mẹ và các chị trong bản ra ven sông Cầu hái lá ngải. Êm êm dưới chân là lớp cát mịn mát, bên tai róc rách tiếng nước chảy trong không gian đẫm mùi cỏ cây và hơi đất sau đêm sương. Hái lá ngải cũng là dịp để lũ trẻ chúng tôi lang thang dọc bờ sông tìm quả mâm xôi. Những quả chín lấp ló trong bụi gai khiến đứa nào cũng mê, chẳng hề mảy may đến những vết gai cào khắp cánh tay. Hình như ở tuổi ấy, cứ mê mải với thiên nhiên, núi rừng rồi tự dưng quên đi những vết xước nhỏ. Nước sông Cầu trong trẻo và hiền hòa soi bóng triền ngải xanh non. Tất cả hòa quyện vào nhau thành thứ hương vị rất riêng của đất trời xứ núi.
 |
| Ảnh minh họa: baoquangninh.vn |
Mùa này, bầy trâu theo bước mục đồng ngược lên đồi gặm cỏ, tạm xa những thửa ruộng mới cấy. Đâu đó dưới thung còn vang tiếng mõ tre lốc cốc theo bước chân chậm rãi. Những giọt sương đêm đọng trên phiến lá khẽ rung rinh rồi từ từ thấm xuống lớp đất xốp mềm, mát rượi. Ngải đắng lặng lẽ đi vào đời sống ẩm thực của người miền núi từ đời này qua đời khác. Cây ngải đắng có mấy loại nhưng người quê tôi nhận biết rất dễ loại nào làm thuốc hay dùng để nấu ăn. Còn để làm bánh, thường chọn loại cây ngải thấp, dày lá và mặt sau có màu trắng bạc. Loại ngải đắng này có mùi thơm, vị đắng chỉ thoáng qua, để lại vị hậu thanh mát nơi đầu lưỡi. Từ đôi bàn tay khéo léo của những người phụ nữ Tày, lá ngải kết hợp với xôi nếp tạo thành những chiếc bánh xanh mướt, giản dị mà tinh tế.
Ở bản tôi, hễ nhà nào làm bánh là mùi thơm lan tỏa, hấp dẫn. Chỉ cần nghe tiếng chày giã thình thịch hoặc mùi bánh ngải rán thơm thơm từ góc bếp là biết mùa “bánh ngải” đã về. Sau mỗi đợt hái lá, đầu ngón tay mẹ dính nhựa, sạm lại trông có vẻ cáu bẩn nhưng kỳ thực, với tôi, đôi bàn tay ấy vẫn đẹp, tỏa ra mùi thơm của lá ngải, mùi nắng gió và sự tảo tần, yêu thương. Tôi thường lăng xăng giúp mẹ các khâu làm bánh như tuốt bỏ những gân lá trước khi chế biến, rang vừng thật thơm rồi giã nhuyễn, sên cùng đường phên trên chiếc chảo gang nóng đều ở góc bếp. Bếp lửa reo tí tách, khói bếp quyện với mùi lá ngải chín tạo nên mùi hương ấm áp. Ngoài sàn, bầy chim đỏ bay ào qua ríu rít, tưng bừng. Sau khi đồ xôi và giã cùng lá ngải cho đến khi dẻo nhuyễn, xanh mịn, từng chiếc bánh tròn nhỏ được nặn, cho nhân lạc vừng sên đường thơm ngào ngạt vào giữa. Bánh ngải có màu xanh mướt như chiếc lá non, vị đắng nhẹ của lá ngải thoáng qua nơi đầu lưỡi rồi tan thành vị thanh mát rất lạ.
Như một nghi thức từ bao đời truyền lại, người trong nhà sẽ đặt vài chiếc lên bàn thờ tổ tiên trước, thì thầm với ông bà rằng một mùa mới lại bắt đầu, cỏ cây đã xanh khắp núi, con cháu được dịp tỏ lòng nhớ về nguồn cội. Sau đó bánh mới được chia cho con cháu và biếu anh em, hàng xóm. Nếu có khách phương xa ghé thăm, nhất định cũng sẽ được mời chiếc bánh nóng hổi, thể hiện tấm lòng thơm thảo của gia chủ. Ngải đắng không đặc biệt hay rực rỡ như loài hoa vàng anh, hoa đại khải hay những tán lá sau sau đỏ tía trên những sườn đồi, vách núi quê tôi, nhưng chính sắc xanh khiêm nhường ấy lại giữ cả mùi thơm của đất trời tháng Ba.
Mỗi lần về quê, nhìn thấy ngải đắng xanh ven suối, tôi lại như nghe đâu đó mùi khói bếp quen thuộc. Như thể trong gió còn có vị bánh mẹ làm tỏa ra từ bếp vuông rực lửa, lặng lẽ tan vào trong tôi nỗi ấm áp, ngọt ngào. Có phải vì thế mà mỗi mùa lá ngải, ký ức tuổi thơ tôi cũng lặng lẽ xanh về...