Giữa những con phố đông đúc cùng những tòa nhà cao tầng, làng La Khê hôm nay không còn nhiều dáng dấp của một làng nghề xưa. Chỉ khi bước qua cổng đình tại cụm di tích đình-chùa Bia Bà (phường Hà Đông), rẽ vào những con ngõ nhỏ, âm thanh lách cách của khung cửi mới đưa người ta trở về với không gian của nghề canh cửi.
Đón khách trong xưởng dệt nhỏ, nghệ nhân Lê Đăng Toản (52 tuổi) vừa đưa tay vuốt nhẹ tấm lụa the đang dệt dở, vừa kể về nghề cổ quê hương mình. Theo thư tịch cổ còn lưu lại, làng La Khê được hình thành từ thế kỷ thứ 5, lúc đầu có tên La Ninh. Theo người xưa, “La” là lụa, “Ninh” là lâu bền.
 |
Nghệ nhân Lê Đăng Toản dệt lụa the bên khung dệt truyền thống tại xưởng của gia đình.
|
Đến thế kỷ 15, làng La Ninh được đổi tên thành La Khê, tức là “làng dệt lụa bên dòng sông nhỏ”. Vùng đất ven kinh đô này vốn màu mỡ, thích hợp với nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ. Người dân dệt các loại vải sồi, đũi, phục vụ nhu cầu may mặc của cư dân Thăng Long xưa. Ðến đầu thế kỷ 17, có những gia đình người Hoa đến lập nghiệp tại đây và đem nghề dệt the, sa, kỹ thuật nhuộm đen và cả công nghệ dệt đến truyền dạy. Từ đó, cả làng sống bằng nghề canh cửi. Các sản phẩm the, sa, vân, địa, quế, gấm vóc của làng được các tầng lớp quý tộc ưa chuộng vì chất vải mỏng, nhẹ nhưng bền đẹp và những hoa văn tinh xảo.
Danh tiếng lan xa, năm 1823, triều đình nhà Nguyễn ra sắc lệnh lập La Khê thành một xưởng dệt cho cung đình Huế, đồng thời cho cả làng được miễn đi lính để tập trung cho việc phát triển làng nghề. Thời Vua Thiệu Trị, xưởng dệt làng La Khê được gọi là Chức tạo cục, hằng năm sản xuất, cung cấp cho triều đình theo định mức 600 tấm lụa sa màu.
Nghệ nhân Lê Đăng Toản cầm một tấm lụa the đưa ra trước ánh sáng. Lớp vải nhìn qua tưởng mỏng, nhưng khi chạm tay vào lại chắc chắn và đứng dáng. “Chữ “the” nghĩa là thưa. Vải được dệt thưa nhưng các sợi ngang, sợi dọc đều được vặn xoắn rất chặt nên không bị xô, co hay mất dáng. Trang phục làm từ lụa the mang lại cảm giác mát mẻ khi mặc vào mùa hè, nhưng vẫn đủ giữ ấm khi thời tiết se lạnh, đó là điều rất đặc biệt của lụa the La Khê”, nghệ nhân Lê Đăng Toản giải thích.
 |
Trang phục làm từ lụa the La Khê.
|
Để tạo nên một tấm lụa the hoàn chỉnh, người thợ sử dụng khung cửi gỗ truyền thống cùng bộ go võng (bộ phận trên khung cửi thủ công) được chế tác riêng. Máy móc chỉ hỗ trợ một vài công đoạn, còn kỹ thuật dệt và tạo hoa văn vẫn phụ thuộc gần như hoàn toàn vào đôi bàn tay người thợ. Mỗi đường dệt, họa tiết đều phải tính toán tỉ mỉ để khi hoàn thiện, mặt vải phẳng, không bị nhăn và họa tiết nổi lên mềm mại. Nghệ nhân Lê Đăng Toản chia sẻ: “Một người thợ lành nghề mỗi ngày chỉ dệt được khoảng 5-7m vải. Có những mẫu phải làm trong nhiều tháng mới xong. Lụa the La Khê không chỉ đẹp khi mới dệt xong. Sau mỗi lần giặt, chỉ cần phơi đúng cách, tấm vải sẽ tự phẳng, giữ nguyên phom dáng và càng mặc càng thấy được vẻ mềm mại rất riêng”.
Rời xưởng dệt, tiếng thoi vẫn đều đặn vọng theo chân người đi. Giữa nhịp sống hiện đại, âm thanh ấy không chỉ là nhịp lao động của người thợ mà còn là lời nhắc về một làng nghề từng làm nên danh tiếng của đất kinh kỳ. Mỗi tấm lụa the được dệt hôm nay tiếp tục nối dài câu chuyện của một nghề cổ, gìn giữ sản phẩm thủ công tinh hoa đã bền bỉ đi cùng thời gian.