1. Phát biểu tại Hội nghị văn hóa toàn quốc tổ chức tháng 11-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (1944-2024) nhấn mạnh: “Khẩn trương phát triển các ngành CNVH, xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh”. Đây là một trong 6 nhiệm vụ trọng tâm mà ngành văn hóa cần tập trung làm tốt trong thời gian tới. Kết luận của Tổng Bí thư đã tạo ra động lực mạnh mẽ cho toàn hệ thống chính trị tại Việt Nam, đặc biệt là các cơ quan liên quan đến văn hóa xây dựng kế hoạch nhằm hiện thực hóa quan điểm chỉ đạo này. Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch... đã tổ chức nhiều hội thảo lớn bàn về vấn đề kiến tạo môi trường và cơ chế để xây dựng thị trường văn hóa nhằm phát triển CNVH.

Tiết mục trong Chương trình nghệ thuật "Với Đảng vẹn toàn niềm tin yêu" chào mừng Đại hội XIV của Đảng, do Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức. Ảnh: VIỆT LAM

Các địa phương ở Việt Nam cũng thể hiện sự quyết tâm bắt kịp với chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng các nghị quyết, đề án phát triển CNVH ở địa phương mình. Hà Nội là đơn vị đi đầu khi trở thành thành phố đầu tiên của Việt Nam gia nhập Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO với danh hiệu Thành phố thiết kế sáng tạo (năm 2019). Tháng 2-2022, Thành ủy Hà Nội đã ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TU về phát triển CNVH trên địa bàn Thủ đô giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, CNVH đóng góp khoảng 8% GRDP của thành phố.

Gần đây, Chiến lược phát triển các ngành CNVH Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 của Chính phủ tiếp tục xác định: “Phát triển các ngành CNVH Việt Nam là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, toàn xã hội”. Đặc biệt, sự ra đời của Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam tạo ra một “cú hích chiến lược” đối với lĩnh vực CNVH. CNVH là động lực mang tính nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước thời kỳ mới.

Trong 10 năm qua, mặc dù với những bước đi mang tính khởi động nhưng CNVH đã khẳng định tiềm năng của thị trường "tỷ đô". Những tác phẩm điện ảnh được đầu tư công phu, sản xuất chất lượng như: “Lật mặt”, “Nhà bà Nữ”, “Bố già”... đã lần lượt tạo ra những cột mốc mới trong doanh thu phòng vé ở Việt Nam. Bộ phim “Mưa đỏ” với hơn 700 tỷ đồng doanh thu cho thấy tiềm năng tiêu dùng của thị trường văn hóa Việt Nam là không hề nhỏ. Điều này cũng được minh chứng qua hiện tượng bùng nổ của các concert âm nhạc quy mô lớn trong thời gian qua. Từ mô típ của các chương trình truyền hình về âm nhạc, việc nắm bắt đúng tâm lý của khán giả trẻ đã giúp Việt Nam kích hoạt thị trường tiêu dùng trong lĩnh vực giải trí. Quan trọng hơn, những giá trị của văn hóa truyền thống đã được đại chúng hóa với phương thức biểu đạt mới mẻ. 

2. Văn hóa không còn chỉ là câu chuyện của một lĩnh vực, một ngành mà đó là tương lai của nhân loại. Hội nghị thế giới về chính sách văn hóa và phát triển bền vững (MONDIACULT 2025) do UNESCO chủ trì (từ ngày 29-9 đến 1-10-2025) đã khẳng định thông điệp “Không có tương lai nếu không có văn hóa” (There is no future without culture). Hội nghị này đã nhấn mạnh tầm quan trọng chiến lược, vai trò trụ cột của văn hóa đối với sự phát triển bền vững toàn cầu, trong đó văn hóa đã, đang và sẽ tham gia giải quyết nhiều khó khăn, thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu, chiến tranh, xung đột, là cầu nối mang lại sự đối thoại, hòa bình, hữu nghị giữa các quốc gia, các dân tộc. Văn hóa, với sự hỗ trợ tích cực, hiệu quả của trí tuệ nhân tạo (AI) và các tiến bộ khoa học, công nghệ như hiện nay, sẽ tạo điều kiện cho nhân loại tiếp tục kỳ vọng, ước mơ hướng đến những mục tiêu cao hơn về phát triển, góp phần hiện thực hóa các nỗ lực toàn cầu hướng đến bảo đảm phẩm giá con người, tự do sáng tạo, tự do biểu đạt, phát huy các giá trị của văn hóa, của con người, trở thành những tài sản quý báu cho các thế hệ trong tương lai.

Trong bối cảnh như vậy, CNVH không chỉ là câu chuyện về việc tìm kiếm lợi nhuận của một ngành hay giá trị kinh tế của di sản văn hóa mà nó luôn phải song hành giữa lợi ích xã hội và lợi ích kinh tế. Đây chính là cơ sở để Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết này cũng một lần nữa tái khẳng định đặc trưng mang tính bản chất của ngành CNVH, đó là: “Đấu tranh khắc phục khuynh hướng thương mại hóa, chỉ coi trọng, đề cao một chiều lợi ích kinh tế trong hoạt động văn hóa, coi nhẹ lợi ích xã hội, nhân văn”. Lợi ích xã hội không chỉ dừng lại ở việc tạo ra một thị trường sản phẩm văn hóa phong phú, đa dạng, thỏa mãn nhu cầu thụ hưởng tinh thần ngày càng cao của người dân mà quan trọng hơn, đó chính là “kênh” để hun đúc động lực tinh thần, sức mạnh bên trong của người dân Việt Nam trong hành trình phát triển của dân tộc.

Bài học của những quốc gia trong khu vực đã cho thấy, thổi bùng được động lực tinh thần và khát vọng sáng tạo vươn lên của con người chính là điểm mấu chốt quan trọng nhất cho quá trình tự cường của một dân tộc. Ví dụ, ở Trung Quốc, từ năm 2012, nội hàm “tự tin văn hóa” đã được bổ sung vào chủ trương “bốn tự tin” của dân tộc này, cùng với tự tin về lý luận, tự tin về chế độ, tự tin về con đường. Trong suốt hơn một thập kỷ trở lại đây, từ khẩu hiệu “tự tin văn hóa”, Trung Quốc đã làm nên một trào lưu dân tộc trong tiêu dùng các sản phẩm nội địa gắn với yếu tố văn hóa truyền thống, từ hàng tiêu dùng hằng ngày đến các mặt hàng công nghiệp. Quan trọng hơn, thông qua sự tự tin về văn hóa dân tộc, họ tạo ra sự tự tin cho mỗi người dân trong việc tạo ra những giá trị mới, giải pháp mới cho đất nước và nhân loại.

3. Ở tầm nhìn tương lai, CNVH cần được trao quyền nhiều hơn nữa để là động lực cho các ngành kinh tế khác, bởi CNVH chỉ cho chúng ta cách kể hay câu chuyện của doanh nghiệp, của các ngành và của cả dân tộc Việt Nam. Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra nhiệm vụ “xây dựng chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài, lấy văn hóa làm nền tảng, trụ cột, lan tỏa hình ảnh, đất nước và con người Việt Nam”. Xu hướng phát triển CNVH của các nước cho thấy, lĩnh vực này đang thâm nhập và dung hợp ngày càng sâu vào du lịch, nông nghiệp, công nghiệp. Thông qua những hình thức biểu đạt mới, có tính thời đại, các ngành CNVH góp phần khai thác, chuyển tải câu chuyện văn hóa của thương hiệu, nhằm gia tăng giá trị trải nghiệm sản phẩm cũng như đáp ứng nhu cầu tiêu dùng theo hướng cá nhân hóa ngày càng cao của người dân trong các thị trường khác nhau.

Hành trình phát triển của dân tộc không chỉ đến từ lời hiệu triệu hay cam kết của lãnh đạo đất nước, mà nó còn phải là khát vọng, là tâm nguyện không quên và ý chí sắt son của mỗi người dân Việt Nam trên con đường đó. Xây dựng các ngành CNVH mạnh để có những sản phẩm chất lượng, tiếp tục tạo nên mạch nguồn tinh thần để tập hợp sức mạnh đoàn kết của dân tộc, cùng nhau hướng đến mục tiêu phát triển chung của đất nước. Tự tin vào văn hóa dân tộc chính là tự tin vào những giá trị truyền thống, vào tố chất tốt đẹp của con người, tự tin vào khả năng sáng tạo, dẫn dắt những xu hướng mới. Tự tin văn hóa chính là sức mạnh để dân tộc Việt Nam vững bước phát triển theo hướng tự chủ, tự cường trong kỷ nguyên mới.