Ở đó, vẻ đẹp bản địa và hồn cốt văn hóa Việt được lưu giữ, trao truyền qua nhiều thế hệ, như một dòng chảy âm thầm nhưng bền bỉ trong đời sống tinh thần của người Việt.

Nhớ lại khoảnh khắc nghề làm tranh Đông Hồ được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) ghi danh vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp tại Kỳ họp lần thứ 20 của Ủy ban liên Chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, tổ chức tại New Delhi (Ấn Độ) tháng 12-2025, nghệ nhân Nguyễn Hữu Hoa-nghệ nhân duy nhất của làng tranh Đông Hồ trực tiếp tham dự kỳ họp-vẫn không giấu được xúc động. Giọng ông dâng trào khi chia sẻ: “Thời khắc làng nghề được đọc tên, không chỉ tôi mà tất cả thành viên trong đoàn Việt Nam đều vỡ òa cảm xúc, vui mừng xen lẫn tự hào. Tôi thầm biết ơn các thế hệ cha ông đã sáng tạo, trao truyền nghề đặc sắc mà mình được thừa hưởng”.

Tác phẩm tranh Đông Hồ "Vinh quy bái tổ".  Ảnh: qdnd.vn 

Theo nghệ nhân Nguyễn Hữu Hoa, niềm tự hào ấy càng lớn thì trách nhiệm càng nặng nề. “Với những người giữ nghề như chúng tôi, việc cần làm là bảo tồn những giá trị truyền thống, không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cường tuyên truyền, quảng bá cho con cháu, người dân trong khu phố, bạn bè và du khách trong nước, quốc tế. Mỗi nghệ nhân, mỗi gia đình cần chủ động tạo dựng không gian trưng bày tranh sáng, xanh, sạch, đẹp; tạo không gian đón tiếp khách đến tham quan, tìm hiểu nghề và tranh, để mỗi du khách khi rời Đông Hồ đều mang theo cảm nhận rõ nét về vùng đất, con người Kinh Bắc cần cù, chịu khó, tài hoa”.

Trong dòng chảy văn hóa dân gian Việt Nam, tranh Đông Hồ đã đi vào nếp sống của người dân gần 500 năm qua, trở thành món ăn tinh thần quen thuộc, đặc biệt mỗi độ Tết đến, xuân về. Nghề làm tranh Đông Hồ là kết tinh của những tri thức dân gian độc đáo, kỹ thuật in khắc gỗ tinh xảo cùng hệ màu hoàn toàn từ thiên nhiên: Vỏ sò điệp, lá chàm, than tre, hoa hòe... tạo nên sắc tranh vừa mộc mạc vừa bền bỉ với thời gian.

Những ngày đầu xuân, về với làng tranh Đông Hồ, người ta vẫn bắt gặp âm thanh quen thuộc của tiếng đục đẽo trên ván gỗ, nhịp điệu đều đặn của bàn tay in tranh, vẽ tranh. Không khí lao động ấy như một lời khẳng định thầm lặng nhưng bền chắc về cam kết của tỉnh Bắc Ninh với UNESCO trong việc triển khai các biện pháp cấp bách nhằm bảo tồn, gìn giữ, phát huy giá trị nghề làm tranh quý báu này.

Theo Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Đăng Chế: Nét độc đáo cốt lõi của tranh Đông Hồ nằm ở những hình ảnh tươi vui, hồn nhiên, hàm chứa ước mơ ngàn đời của người lao động về cuộc sống gia đình thuận hòa, ấm no, hạnh phúc; về một xã hội công bằng, tốt đẹp. Mỗi bức tranh mang một thông điệp riêng, phản ánh những khát vọng rất đỗi đời thường mà sâu sắc: Tranh "Múa lân" rộn ràng, gửi gắm ước mong thịnh vượng, phát đạt; tranh "Vinh hoa-Phú quý" là lời chúc tụng an lành, đủ đầy, con cháu sum vầy; tranh "Chăn trâu thổi sáo" ca ngợi cuộc sống thanh bình của làng quê Việt, gửi gắm khát vọng về sự trưởng thành, thành đạt của con người.

Tuy nhiên, cùng với niềm tự hào là những trăn trở không nhỏ. Thực tế cho thấy, hiện nay chỉ còn rất ít gia đình tiếp tục duy trì nghề làm tranh dân gian Đông Hồ, với việc truyền dạy tri thức và kỹ năng chủ yếu vẫn diễn ra trong phạm vi gia đình. Đó là nỗi lo chung của những người giữ nghề như nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế, nghệ nhân Nguyễn Hữu Hoa và cả những nhà quản lý văn hóa tâm huyết. “Càng tự hào về truyền thống dân tộc bao nhiêu thì trách nhiệm bảo tồn nghề làm tranh dân gian Đông Hồ càng lớn bấy nhiêu”, nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế bày tỏ. Ông kỳ vọng việc UNESCO ghi danh không chỉ là sự vinh danh mà còn là một lời nhắc nhở, một tín hiệu thúc đẩy mạnh mẽ để Nhà nước, cộng đồng và bạn bè quốc tế chung tay bảo tồn di sản này một cách cấp thiết, bài bản và bền vững hơn, để tranh Đông Hồ mãi giữ được những nét tươi trong, hồn hậu, thấm đẫm tinh thần Việt.