Để được như vậy, ngoài tài năng, tâm huyết, còn nhờ sự trải nghiệm, vốn sống phong phú, đi nhiều, đọc nhiều, viết nhiều. Đặc biệt là thời gian đi sứ Trung Hoa, Lê Quý Đôn gặp gỡ nhiều sứ thần các nước, đọc nhiều sách Trung Hoa về nhiều chủ đề... Kiến thức tích lũy chuyển hóa thành học vấn cùng với cảm xúc, tạo thành nền móng để ngôi nhà thơ chữ Hán của Lê Quý Đôn mang vẻ đẹp rất riêng.

Tri thức chuyển hóa thành cảm xúc

Đứng trước một thắng cảnh, với cái nhìn sử gia, nhà thơ không chỉ chiêm ngưỡng vẻ đẹp hiện hữu mà còn nhìn thấy chiều sâu lịch sử. Với góc nhìn triết gia, thiên nhiên không chỉ thơ mộng mà còn vận động theo quy luật biến dịch, thịnh suy. Khi quan sát con người, nhà thơ lại nhìn bằng con mắt của đạo đức học, bàn luận về phẩm giá, trách nhiệm... Mỗi bài thơ là một mã văn hóa nhiều tầng nghĩa, được xếp thành nhiều lớp tri thức. Trong bài mang tính vịnh sử “Qua miếu Vũ Hầu ở Thạch Bình sơn”, tác giả viết: “Đáng hận Hoàn, Linh dùng ngũ hầu/ Cố gắng dựng lại ngôi nhà cũ, ngăn dòng nước/ Được Hán Trung cũng khó tranh thiên hạ/ Không hiểu thời thế Cơ Tử than thở/ Nơi sông hồ ai ôm mối lo nước Kỷ”.

Hoàn, Linh là Hoàn đế và Linh đế-hai vua kém cỏi cuối cùng thời Đông Hán. Lưu Bị lấy được Hán Trung lập ra Thục Hán. Cơ Tử vốn là quan Thái sư nhà Trụ, nổi tiếng trung thần. “Lo trời sập” là tích ở nước Kỷ, có một người cứ lo sợ trời sẽ sập, nên tìm đủ cách tránh. Tức chê những kẻ hay nghĩ chuyện vô lý, viển vông. Thì ra ở đời “người đôi ba đấng”, có tài năng kiệt xuất như Gia Cát, trung nghĩa như Cơ Tử, nhu nhược như Hoàn đế, lại có kẻ rất ngu ngốc... Cuộc sống cứ trôi, chỉ những tài năng đích thực như Vũ Hầu Gia Cát là sống mãi với thời gian.

Tiêu biểu cho quan niệm “văn, sử, triết bất phân”, trong thơ chữ Hán của Lê Quý Đôn, thơ, sử, triết hòa quyện thành một chỉnh thể.   

Phát hành bộ tem bưu chính trong kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (2-8-1726 / 2-8-2026). Ảnh: THẾ DUYỆT

Tư duy bác học chi phối cấu trúc

Phát triển theo logic một bài khảo luận, nhiều bài thơ thường bắt đầu từ một cảnh vật cụ thể, mở rộng sang không gian địa lý, đi sâu về lịch sử văn hóa, phong tục, tiến tới khái quát triết lý, cuối cùng quay trở về hiện tại. Hình tượng nghệ thuật mang chức năng cầu nối gắn kết quá khứ với hiện tại, để ngẫm về tương lai. Một nhân vật cổ xưa thành tấm gương soi chiếu hiện thực đương thời. Một câu chuyện kinh điển gợi mở bài học cách trị quốc, tu thân... Trong “Tiêu Tương bách vịnh”, bài 60, chỉ 4 câu: “Hồ Nam từ xưa đã là kinh đô giao thông/ Chầu về Việt, nối với Điền, vượt qua Ngô/ Gạo thóc, khoáng sản xe thuyền đều về đây giao dịch/ Kho lương Ngao Thương còn tự cung cấp dư dật”. Ít nhất có 4 lớp ý nghĩa: Địa lý (không gian vùng Hoa Nam: Việt; Điền, tức Vân Nam; Ngô, tức nước Ngô thời Xuân Thu); kinh tế, giao thông (mạng lưới thương mại lương thực, khoáng sản); chính trị (yên ổn, an hòa); phương pháp tư duy (ngắm cảnh nhưng để suy nghĩ về nhiều điều khác). Trong bản phiên âm, hai chữ “củng Việt” (“củng” nghĩa là chầu về, bao bọc) hiểu là chầu về (nước) Việt, tức “Lưỡng Quảng” vốn thuộc xứ Bách Việt xưa. Bài thơ kín đáo một nỗi niềm hoài cổ, pha một chút tự hào, thêm một chút tiếc nuối.

Đề cao văn hóa, coi trọng nhân tài, học gắn liền với hành

Có một chủ đề được nhắc lại nhiều lần là: Muốn có tài năng phải có nhiều sách. Bài 74 trong chùm “Tiêu Tương bách vịnh”, tác giả viết: “Hồ Nam có thư viện danh tiếng/ Làm cho văn nhân có lòng ngưỡng mộ tiền nhân”. Tức nhắc tới thư viện Nhạc Lộc nổi tiếng. Câu thơ gián tiếp nêu một quy luật phát triển văn hóa: Sách vở là cơ sở đầu tiên để có nhân tài. Lê Quý Đôn nhắc nhiều đến Giả Nghị với thái độ kính trọng: “Bình sinh tôi thích đọc Tân thư/ Không a dua theo thói đời/ Gần đây cầm cờ đi sứ/ Lan man tìm đến nơi cũ Thái phó Giả Nghị". Giả Nghị (200-168 trước Công nguyên) học giỏi tài cao, để lại bộ “Tân thư” (10 quyển) rất tiến bộ. Cũng là cách nêu quan niệm cá nhân, không xu thời trong việc tìm tòi cái mới, còn chung quan điểm với Giả Nghị (trong “Tân thư”): Chống lối “học vẹt”, đề cao thực học, gắn việc học với thực hành.

Toát ra từ hơn 500 bài thơ chữ Hán của Lê Quý Đôn là đau đáu một nỗi niềm làm sao để văn hóa Việt tỏa sáng. Sự uyên bác kinh điển Trung Hoa cũng là cách để nhà thơ vun bồi văn hóa nước nhà. Lên Lạng Sơn, ông có bài “Lội sông Hóa qua núi Mụ Chị Mụ Em”: “Hai chị em chốn này con nhà ai?/ Đứng sóng đôi có ý tự khoe.../ Chớ nên khoe vẻ ngoài đẹp mà biến đổi tính nết/ Quay nhìn lại, đằng sau có (núi) Ông Bà”. Bài thơ tả thực: Vùng biên ải Lạng Sơn, có “núi Ông Bà”, tên gọi khác là Công Mẫu sơn, theo truyền thuyết là “ông bà” của các ngọn núi khác. Bài thơ ngầm một ý giáo huấn: Đừng sống với vẻ bề ngoài, đừng khoe khoang. Hãy sống đúng với con người mình, bản sắc dân tộc mình. Hãy nhìn về quá khứ “ông bà” (để biết đền ơn).

Liên văn hóa - từ quan niệm đến văn bản

Trong thời toàn cầu hóa hôm nay, một tác gia “liên văn hóa” được ví như cây xanh cường tráng cắm sâu các chùm ra khỏe khoắn vào nhiều mảnh đất văn hóa, để kết trái tác phẩm có tư tưởng mang tính phổ quát nhân loại. Điều ấy sớm có ở Lê Quý Đôn. Bài thơ “Qua huyện Hưng An, kính thăm đền thờ Liêm Khê Chu tiên sinh” ca ngợi Chu Đôn Di (1017-1073), người sáng lập trường phái Lý học Tống Minh. Tác phẩm “Ái liên thuyết” của Chu Đôn Di thể hiện tinh thần “liên văn hóa” dung hòa Đạo giáo, Phật giáo để làm mới Nho giáo.

Lê Quý Đôn đã nhận ra nét khác biệt nhất của học giả này: “Núi Liên Hoa cao nghìn (dặm) đối diện núi Quy Mông/ Sông Vấn một phái theo mạch Thù Tứ”. “Quy Mông” là tên ngọn núi lớn ở Sơn Đông, cũng là tên nhà thơ lớn đời Đường (Lục Quy Mông). Chu Đôn Di cuối đời ẩn cư ở núi Liên Hoa (Giang Tây). Ý nói hai người (Quy Mông, Chu Đôn Di) ánh xạ văn hóa vào nhau tạo ra “phái mạch Thù Tứ”. Sông Vấn chảy qua nước Lỗ, quê Khổng Tử xưa. Sông Thù, sông Tứ đều ở Sơn Đông, đều gắn liền với chuyện Khổng Tử dạy học. Ý nói “phái” này có nguồn mạch từ Khổng Tử nhưng biết thu nhận nhiều luồng phù sa văn hóa ở nhiều dòng khác. Chỉ hai câu thơ mà gói vào đó tư tưởng cả một trường phái, cả một phần lịch sử. Đây cũng là nét phong cách thơ Lê Quý Đôn, cho thấy ông chịu ảnh hưởng của Chu Đôn Di: Tác phẩm không hề khép kín mà luôn được đặt trong mạng lưới quan hệ với truyền thống văn học, văn hóa, lịch sử... Quan niệm này có phần gần gũi với lý thuyết “liên văn bản” thời hiện đại.

Tập cổ là một biểu hiện của “liên văn bản”, tập hợp các câu thơ có sẵn của người đời trước, ghép lại thành bài theo ý mới, tức tái cấu trúc văn bản trên chất liệu cũ. Phải hiểu sâu sắc bối cảnh ra đời, tư tưởng của tác giả, ý thơ, mới có thể “ghép” thành tác phẩm có tư tưởng, phong cách, ý tứ riêng. Phải thật sự hiểu sâu biết rộng, phải thật tinh tế, khéo léo để “dệt” nên một “liên văn bản” mới mẻ.

Xin đọc bài thơ: “Mùa thu đẹp, biết ngắm nơi nao/ Rặng cây xanh ngút ngát/ Khói hoang đồn lính cũ/ Sông dài mặt trời lặn/ Mây trắng đùn lên từ chân núi/ Trăng sáng tràn phía trước/ Khách văn chương mải ngắm phía trước/ Thuyền nghỉ dựa vào bãi cát” (“Đầu thu nhàn ngắm cảnh Vĩnh Châu”). Một bài thơ hoàn chỉnh, kết cấu chặt chẽ (đề, thực, luận, kết), tả rặng cây hiện tại, tả cảnh quá khứ (hình tượng đồn lính cũ bỏ hoang), sông dài theo chiều hoàng hôn, mây trắng ở chân núi. Trăng lên, thuyền câu dạt vào bãi cát. Người thơ say ngắm cảnh hoàng hôn. Không gian như tĩnh lặng tuyệt đối. Nhịp thời gian chuyển dần từ chiều về đêm... Thế nhưng, đó lại là một bài tập cổ, rút ra từ những bài thơ của Tư Không Tự, Tạ Huyền Huy, Trần Tử Ngang, Bạch Cư Dị, Tiêu Úc, Dương Quỳnh, Thẩm Thuyên Kỳ, Đỗ Phủ.

Thơ chữ Hán của Lê Quý Đôn ít nhiều mang đặc điểm của diễn ngôn học thuật. Để có điều ấy phải là sự kết tinh giữa uyên bác và cảm xúc, khảo cứu và sáng tạo, trí tuệ và nhân văn.