Lê Quý Đôn quê ở làng Diên Hà, nay thuộc xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên. Ông xuất thân trong gia đình khoa bảng, cha là Lê Trọng Thứ, đỗ Tiến sĩ khoa thi năm Giáp Thìn (1724), làm quan đến Thượng thư Bộ Hình. Từ nhỏ, Lê Quý Đôn đã nổi tiếng thông minh. “Năm 12 tuổi, ông học khắp kinh, truyện, các sử, các sách của bách gia chư tử, không sách nào là không thông suốt” (Phan Huy Chú, "Lịch triều hiến chương loại chí", tập I, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2006, tr.465).

Đường học hành, thi cử của ông hanh thông: Năm 17 tuổi (1743) đỗ Giải nguyên, năm 26 tuổi (1752) đỗ Hội nguyên và Bảng nhãn (khoa thi này không có Trạng nguyên), thành ra từ thi Hương, thi Hội, thi Đình, ông đều đỗ đầu (tam nguyên). Quan lộ của Lê Quý Đôn trải nhiều chức vụ từ địa phương tới trung ương, cả dân sự, quân sự, giáo dục... và đều làm đến các vị trí cao (Hiệp trấn, Bồi tụng, Thượng thư, Tổng tài...). Được xem là nhà trí thức đọc nhiều nhất, viết nhiều nhất của Việt Nam thời trung đại, sự nghiệp trước tác của Lê Quý Đôn rất đồ sộ, uyên bác, phong phú, sâu sắc. Những tác phẩm nổi tiếng có giá trị đặc biệt về học thuật và di sản văn hóa của ông có thể kể đến như: "Đại Việt thông sử", "Kiến văn tiểu lục", "Phủ biên tạp lục", "Quần thư khảo biện", "Vân đài loại ngữ", "Toàn Việt thi lục", "Quế Đường thi tập", "Quế Đường văn tập"...

 Khu tưởng niệm nhà bác học Lê Quý Đôn tại xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên.

Là trí thức Nho học làm quan, Lê Quý Đôn có khát vọng đem tài năng giúp đời, cứu người. Ông sống trong khoảng thời gian đất nước nói chung, vùng Đàng Ngoài nói riêng diễn ra nhiều biến động dữ dội. Những dấu hiệu suy đồi của chế độ phong kiến ở Đàng Ngoài đã trở nên rõ ràng từ đầu thế kỷ 18 và mặc dù trong các Chúa Trịnh bấy giờ cũng có người đã cố gắng cải thiện tình hình nhưng không mấy hiệu quả. Đến những năm 30 của thế kỷ 18, chế độ phong kiến ở Đàng Ngoài thực sự bước vào khủng hoảng toàn diện. Kinh tế suy sụp, nhất là nông nghiệp, đời sống nhân dân điêu đứng, tình trạng nông dân phiêu tán diễn ra trầm trọng. Phong trào nông dân khởi nghĩa bùng nổ và kéo dài mấy chục năm. Đất nước vẫn trong tình trạng chia cắt Đàng Ngoài (chính quyền Lê-Trịnh)-Đàng Trong (chính quyền Chúa Nguyễn), xung đột và chiến tranh Trịnh-Nguyễn đã tạm khép lại từ cuối thế kỷ 17 nhưng mâu thuẫn vẫn âm ỉ. Khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ, diệt Nguyễn chống Xiêm... Lê Quý Đôn mất khi quân Tây Sơn chưa vượt sông Gianh ra Bắc, nhưng ông đã chứng kiến những biến động dữ dội của đất nước giai đoạn cuối thế kỷ 18.

 Màn trống hội tại Lễ dâng hương tưởng niệm 241 năm Ngày mất nhà bác học Lê Quý Đôn. Ảnh: HƯNG HÀ

Làm quan trong bối cảnh đất nước khủng hoảng sâu sắc, Lê Quý Đôn có hoài bão thay đổi, nhất là khi ông hiểu rõ thực trạng triều đình Lê-Trịnh và là người thực tế, trải nhiều chức vụ trong ngoài, ông hiểu thực trạng xã hội, hiểu thực trạng đời sống nhân dân. Tài năng của Lê Quý Đôn khiến các Chúa Trịnh cần, ở ông còn có cả sự khéo léo nên được các Chúa Trịnh rất yêu quý. Nhờ đó mà những đề nghị của ông trực tiếp đến được với Chúa (Trịnh Doanh, Trịnh Sâm), được thực hiện và phần nào cải thiện tình hình. Trước khi lên Thăng Long, ông sống ở quê từ nhỏ nên rất gần dân và hiểu dân. Điều này khiến quan điểm về dân của Lê Quý Đôn trở nên thực chất, thực lòng. Dân nuôi sống triều đình, quan lại, dân ổn thì nước mới ổn, triều đình mới vững vàng. Khi được sai đi khám duyệt hộ khẩu ở Thanh Hóa (1770) trở về, ông tâu xin tha bớt các thuế thổ sản, thủy sản và thuế thân còn thiếu, được Chúa Trịnh thi hành. Ông tâu trình 4 việc được Chúa Trịnh rất khen ngợi (sửa đổi đường lối bổ quan, sửa đổi chức vụ của các quan, sửa đổi thuế khóa của nhà nước, sửa đổi phong tục của dân). Vào năm đại hạn (1773), ông tâu trình 5 việc, đại ý trong đó có việc “lấy đức mà khoan sức dân”, được Chúa Trịnh “nghe theo, cho làm Bồi tụng giữ việc dân chính”. Tư tưởng này có thể coi là sự tiếp nối quan điểm của Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi về vai trò, sức mạnh của nhân dân.

Nói đến những đóng góp của Lê Quý Đôn, trước hết và chủ yếu là ở sự nghiệp văn hóa. Bận rộn việc chính trị nhưng ông vẫn đọc sách và viết sách. Với những gì mà chúng ta biết được, mới thấy sức làm việc của ông bền bỉ, hăng say, khoa học và hiệu quả như thế nào. Những trước tác của Lê Quý Đôn bao phủ nhiều lĩnh vực khoa học, phản ánh tri thức về đất nước, con người Việt Nam thế kỷ 18 trở về trước cũng như nhiều tri thức của nhân loại. Về sử học là hai tác phẩm lớn: "Đại Việt thông sử" và "Phủ biên tạp lục", ngoài ra cũng có giá trị sử học là "Bắc sử thông lục" và "Kiến văn tiểu lục". Về triết học là "Quần thư khảo biện", "Thánh mô hiền phạm lục"... "Vân đài loại ngữ" là bộ sách được coi như một bách khoa thư các tri thức về triết học, khoa học, văn học... Về văn học có "Quế Đường thi tập", "Quế Đường văn tập" là những sáng tác của ông và bộ tổng tập "Toàn Việt thi lục" do ông sưu tầm và biên tập. Chỉ tính trong lĩnh vực sử học, hai tác phẩm "Đại Việt thông sử" và "Phủ biên tạp lục" có vị trí và giá trị đặc biệt đối với sử học Việt Nam.

"Đại Việt thông sử" là một công trình sử học lớn, được viết theo thể kỷ truyện (tác phẩm đầu tiên trong lịch sử sử học Việt Nam viết theo thể này, phần còn lại hiện nay không đầy đủ). Lê Quý Đôn dựa vào sách "Đại Việt sử ký toàn thư" để viết "Đại Việt thông sử" nhưng có bổ sung nhiều tài liệu mà các bộ sử khác không có. Sau này, Phan Huy Chú soạn sách "Lịch triều hiến chương loại chí" hay Quốc sử quán triều Nguyễn soạn "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" đã sử dụng nhiều tài liệu của "Đại Việt thông sử".

"Phủ biên tạp lục" được viết trong thời gian Lê Quý Đôn làm Hiệp trấn ở Phú Xuân, dựa trên các tài liệu lưu trữ của chính quyền Chúa Nguyễn. Điều này khiến tác phẩm có giá trị đặc biệt khi nghiên cứu về lịch sử vùng đất phía Nam. Từ năm 1558, Nguyễn Hoàng vào làm Trấn thủ xứ Thuận Hóa, sau đó ít lâu kiêm Trấn thủ xứ Quảng Nam, công cuộc mở đất về phương Nam tiếp tục được đẩy mạnh và đến giữa thế kỷ 18 thì lãnh thổ Việt Nam đã cơ bản như hiện nay cả đất liền và hải đảo. Tuy nhiên, các bộ sử thời Lê-Trịnh chủ yếu ghi chép những sự kiện diễn ra ở Đàng Ngoài. Nếu không có "Phủ biên tạp lục" của Lê Quý Đôn thì lịch sử Đàng Trong sẽ có nhiều khoảng trống, trong đó có công cuộc mở đất và đặc biệt là những ghi chép về địa lý, các hoạt động khai phá, chiếm lĩnh và thực thi chủ quyền của Việt Nam ở các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Trên phương diện học thuật, qua các trước tác của Lê Quý Đôn, có thể thấy ông trọng tính thực chứng. Một trong những điểm nổi bật trong phương pháp chép sử của Lê Quý Đôn là tôn trọng sự thật khách quan. Điển hình như những ghi chép về nhà Mạc bị coi là “ngụy triều” theo quan điểm Nho giáo cũng như trên lập trường của nhà Lê-Trịnh mà ông đang phục vụ nhưng ông vẫn tỏ ra rất khách quan khi chép về các sự kiện gắn với vương triều này.

Lê Quý Đôn là một tấm gương sáng về lao động học thuật. Tư chất thông minh trời phú, các chức vụ, công việc, lĩnh vực, địa bàn mà ông đã trải qua là những điều kiện tốt để hoạt động trước tác của ông thuận lợi. Nhưng như thế là chưa đủ để Lê Quý Đôn có được sự nghiệp văn hóa, khoa học đồ sộ và có giá trị lâu bền nếu thiếu đi niềm đam mê, một tư duy hệ thống, tính thực chứng và phê phán, ý thức bảo tồn di sản lịch sử-văn hóa của dân tộc, thâu nhận với tinh thần bách khoa thư tri thức nhân loại, phẩm chất khiêm tốn, học hỏi và học tập không ngừng. Ông để lại cho hậu thế tinh thần hiếu học, độc lập tư duy và trách nhiệm của trí thức trước thời cuộc. Tư tưởng của ông vượt thời gian, trở thành nền tảng cho việc xây dựng xã hội học tập, tôn trọng tri thức và khuyến khích sáng tạo. Ngày nay, di sản của Lê Quý Đôn để lại vẫn là nguồn cảm hứng mạnh mẽ, khẳng định rằng tri thức chân chính luôn là sức mạnh bền vững của dân tộc./.