Từ truyền thống ngàn đời đến Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Ngày 28-2-2026 đánh dấu một mốc son đáng tự hào khi Lễ hội truyền thống - Hội Lim chính thức được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Sự kiện không chỉ là sự tôn vinh một lễ hội đặc sắc của vùng Kinh Bắc, mà còn là sự khẳng định giá trị bền vững của văn hóa dân tộc Việt Nam trong dòng chảy hiện đại. Từ bao đời nay, Hội Lim đã trở thành biểu tượng của không gian văn hóa Quan họ, nơi hội tụ những giá trị lịch sử, tâm linh, nghệ thuật và cộng đồng đặc sắc, tạo nên một “địa chỉ đỏ” của bản sắc Việt.

Cội nguồn lịch sử - tâm linh của một lễ hội đặc sắc: Hội Lim diễn ra hằng năm vào ngày 12 và 13 tháng Giêng âm lịch tại vùng Lim thuộc huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh - mảnh đất được mệnh danh là “đất trăm nghề, đất nghìn năm văn hiến”. Trọng tâm của lễ hội là khu vực đồi Lim và chùa Lim, nơi gắn với truyền thống thờ Thành hoàng và các vị tiền hiền có công với làng xã.

Trong ký ức cộng đồng, và theo các nguồn tài liệu cho biết, từ thế kỷ XVIII, Hội Lim đã trở thành một lễ hội quy mô lớn của vùng Kinh Bắc, nơi các làng Quan họ gặp gỡ, giao lưu, kết chạ, trao duyên bằng lời ca tiếng hát. Theo sách “Bắc Ninh phong thổ tạp ký” viết: Hội núi Hồng Vân Sơn vào ngày 13 tháng Giêng. Sáu xã trong tổng Nội Duệ áo mũ, cờ trống chỉnh tề hội họp ở đình cạnh núi. Tương truyền xưa có Hiếu trung hầu họ Nguyễn làm trấn thủ Thanh Hóa. Đến khi từ quan, đưa hơn sáu chục mẫu ruộng tốt để hiến vào chùa Hồng Ân lưu thưởng cho kẻ sĩ và hương hỏa về sau lại mua một nửa núi Hồng Vân, sau khi ông mất, mai táng ở núi này.

Sáu xã trong tổng thờ cúng, được nhân dân tôn vinh vì công lao mở mang lễ hội, quy tụ dân làng và khuyến khích phát triển sinh hoạt văn hóa Quan họ. Yếu tố tâm linh của lễ hội thể hiện ở nghi thức tế lễ trang trọng, rước thần, dâng hương cầu phúc, cầu an. Tuy nhiên, điều làm nên linh hồn của Hội Lim không chỉ là phần lễ, mà còn là phần hội - nơi không gian văn hóa dân gian được tái hiện sinh động, đậm đặc bản sắc.

Các liền anh, liền chị hát Quan họ trên thuyền. Ảnh: baovanhoa.vn

Không gian Quan họ - hồn cốt của Hội Lim: Nói đến Hội Lim là nhắc đến dân ca Quan họ Bắc Ninh - di sản đã được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2009. Quan họ không chỉ là một thể loại âm nhạc, mà còn là một lối sống, một ứng xử văn hóa đặc trưng của cư dân Kinh Bắc.

Trong những ngày hội, trên đồi Lim, dưới mái đình cổ kính hay trên những chiếc thuyền rồng giữa hồ, các liền anh, liền chị trong trang phục áo the, khăn xếp, nón quai thao cất lên những làn điệu mượt mà, đằm thắm. Quan họ trong Hội Lim giữ đúng lề lối cổ truyền: Hát đối đáp, hát canh, hát giao duyên, thể hiện tinh thần trọng nghĩa, trọng tình, đề cao sự tinh tế trong lời ăn tiếng nói.

Quan họ không đơn thuần là biểu diễn, mà là sự trao gửi tâm hồn. Mỗi câu hát là một lời thăm hỏi, mỗi làn điệu là một nhịp cầu kết nối cộng đồng. Không gian Hội Lim vì thế trở thành không gian của sự gặp gỡ, của tình người và của những giá trị nhân văn sâu sắc. Việc Hội Lim được công nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia chính là sự ghi nhận đối với tổng thể không gian lễ hội - nơi Quan họ được nuôi dưỡng, thực hành và truyền trao qua nhiều thế hệ.

Hội Lim là kết tinh của nhiều lớp giá trị văn hóa - xã hội sâu sắc

Thứ nhất là, giá trị lịch sử. Lễ hội phản ánh cấu trúc làng xã truyền thống của cư dân Đồng bằng Bắc Bộ, thể hiện mối quan hệ cộng đồng chặt chẽ, tinh thần cố kết làng xã và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”.

Thứ hai là, giá trị nghệ thuật. Hội Lim bảo tồn những làn điệu Quan họ cổ, giữ gìn phong cách hát mộc mạc, không nhạc đệm, tôn trọng lề lối truyền thống. Trong bối cảnh đời sống âm nhạc hiện đại có nhiều biến đổi, việc duy trì hình thức sinh hoạt này có ý nghĩa như một “bảo tàng sống” của nghệ thuật dân gian.

Thứ ba là, giá trị giáo dục. Hội Lim góp phần nuôi dưỡng tình yêu quê hương, lòng tự hào dân tộc, giáo dục thế hệ trẻ về bản sắc văn hóa và trách nhiệm bảo tồn di sản. Không gian lễ hội là môi trường thực hành văn hóa, nơi các nghệ nhân truyền dạy trực tiếp cho lớp trẻ bằng chính trải nghiệm sống động.

Thứ tư là, giá trị cộng đồng và phát triển bền vững. Hội Lim không chỉ là sinh hoạt tín ngưỡng, mà còn là sự kiện văn hóa - du lịch quan trọng, góp phần quảng bá hình ảnh Bắc Ninh, thúc đẩy kinh tế địa phương trên nền tảng bảo tồn di sản.

Công nhận Di sản - niềm tự hào và trách nhiệm: Việc Hội Lim được công nhận Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia, tổ chức Lễ đón nhận ngày 28-2-2026 không chỉ là một danh hiệu, mà là sự khẳng định giá trị sống động của lễ hội trong đời sống đương đại. Danh hiệu ấy là kết quả của quá trình gìn giữ bền bỉ của cộng đồng, của tâm huyết các nghệ nhân, của sự quan tâm của chính quyền và ngành văn hóa.

 Tuy nhiên, công nhận không phải là điểm kết thúc mà là điểm khởi đầu cho một giai đoạn mới: Giai đoạn bảo tồn gắn với phát triển bền vững. Trong bối cảnh hội nhập và đô thị hóa nhanh chóng, lễ hội truyền thống dễ bị thương mại hóa, sân khấu hóa quá mức hoặc mất đi tính nguyên bản. Vì vậy, bảo tồn Hội Lim cần đặt trên nền tảng tôn trọng chủ thể văn hóa - chính là cộng đồng cư dân địa phương.

Giữ được “hồn Quan họ” trong không gian Hội Lim đòi hỏi sự cân bằng tinh tế giữa truyền thống và hiện đại: Vừa tổ chức lễ hội trang trọng, hấp dẫn, vừa đảm bảo không gian thực hành Quan họ cổ truyền; vừa khai thác giá trị du lịch, vừa gìn giữ lề lối, nghi thức và phong cách ứng xử văn hóa.

Hội Lim trong hành trình xây dựng bản sắc Việt Nam hiện đại: Trong tiến trình phát triển đất nước, văn hóa được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển. Hội Lim - với bề dày lịch sử và sức sống đương đại - là minh chứng sinh động cho sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam. Giữa nhịp sống công nghiệp hóa, những làn điệu Quan họ vang lên trên đồi Lim như lời nhắc nhở về cội nguồn. Chúng khẳng định rằng phát triển không đồng nghĩa với đánh mất bản sắc; hiện đại không đối lập với truyền thống. Trái lại, chính truyền thống được bảo tồn sáng tạo sẽ làm nên chiều sâu văn hóa cho sự phát triển.

Hội Lim còn góp phần khẳng định vị thế của Bắc Ninh - vùng đất Kinh Bắc - trong bản đồ văn hóa quốc gia. Nếu Hội Gióng là biểu tượng của tinh thần thượng võ, nếu Festival Huế là sự kết tinh của văn hóa cung đình, thì Hội Lim là không gian của tình người, của đối đáp giao duyên, của sự tinh tế trong ứng xử văn hóa dân gian. Sự đa dạng ấy tạo nên một bức tranh phong phú của văn hóa Việt Nam, nơi mỗi lễ hội là một sắc màu riêng nhưng cùng chung nhịp đập của tinh thần dân tộc.

Hướng tới tương lai - bảo tồn và lan tỏa

Để Hội Lim thực sự phát huy giá trị trong giai đoạn mới, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp: Tăng cường truyền dạy Quan họ trong cộng đồng, nhất là trong trường học. Hỗ trợ, tôn vinh nghệ nhân - những “báu vật sống” của di sản. Ứng dụng công nghệ số để lưu trữ, quảng bá nhưng không thay thế hình thức thực hành truyền thống. Xây dựng môi trường lễ hội văn minh, hạn chế các biểu hiện lệch chuẩn, thương mại hóa. Quan trọng hơn hết là nuôi dưỡng niềm tự hào văn hóa trong mỗi người dân. Bởi di sản chỉ thực sự sống khi được cộng đồng yêu quý, trân trọng và thực hành bằng tất cả sự thành kính.

Việc tổ chức Lễ đón nhận Hội Lim là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia ngày 28-2-2026 không chỉ là sự tôn vinh một lễ hội truyền thống, mà còn là lời khẳng định mạnh mẽ về sức sống của văn hóa dân tộc Việt Nam. Trong tiếng trống hội rộn ràng, trong những câu hát Quan họ đằm thắm, chúng ta nhận ra chiều sâu của lịch sử, vẻ đẹp của tâm hồn và khát vọng gắn kết cộng đồng.

Hội Lim hôm nay không chỉ là lễ hội của riêng Bắc Ninh, mà đã trở thành di sản chung của quốc gia, một biểu tượng của bản sắc Việt giữa thời đại hội nhập. Giữ gìn và phát huy giá trị ấy chính là giữ gìn hồn cốt dân tộc, để từ những câu hát giao duyên trên đồi Lim, âm vang văn hóa Việt Nam tiếp tục lan tỏa bền bỉ trong tương lai.