Nhưng so với hơn 300 năm của giao hưởng thính phòng thế giới, thì khí nhạc của Việt Nam còn quá trẻ, chỉ bằng 1/5 lịch sử của loại hình nghệ thuật được ví như “bà chúa của vương quốc âm nhạc”.

Đưa "bà chúa của vương quốc âm nhạc" đến gần hơn công chúng

Người Việt vốn yêu ca hát-hát ca là tâm điểm trong sinh hoạt âm nhạc, vì thế nhạc hát luôn chiếm ưu thế hơn so với nhạc đàn trong quá khứ cũng như trong đời sống âm nhạc hiện nay. Tình yêu ca hát đó lớn đến mức đã “góp phần” tạo nên tình trạng mất cân đối giữa nhạc hát và nhạc đàn trong nhiều thập niên gần đây, một hiện trạng đáng lo ngại: Ca nhạc giải trí mang tính thị trường đang lấn át nhạc chính thống, và trong nhạc chính thống thì thanh nhạc (đại diện là ca khúc đại chúng) lại lấn lướt khí nhạc.

Song ở đây tôi vẫn muốn dành lời cho lĩnh vực có phần yếu thế hơn: Khí nhạc chuyên nghiệp. Bởi khi vươn ra ngoài biên giới quốc gia để hòa nhập vào cộng đồng âm nhạc chính thống quốc tế, tiếng nói đại diện cho dân tộc Việt Nam lại không thuộc về thanh nhạc, không thuộc về những “bài hát yêu thích” hay những ca khúc được xếp hạng “top” này, “hit” nọ của người Việt mê ca hát. Tiếng nói âm nhạc mang màu cờ sắc áo quốc gia phải là khí nhạc với “ngôn ngữ không cần phiên dịch”, là những tác phẩm quy mô lớn hơn thể loại ca khúc mà hiện giờ đáng tiếc vẫn còn xa lạ với công chúng Việt Nam.

leftcenterrightdel
 

Hòa nhạc “Điều còn mãi” tổ chức ngày Quốc khánh 2-9 hằng năm tôn vinh những tác phẩm khí nhạc Việt Nam.Ảnh: ANH DŨNG 

Phác đồ thị hành trình gần 70 năm giao hưởng thính phòng Việt Nam có thể thấy khúc biểu thị bước tiến nhanh nhất lại là giai đoạn kháng chiến chống Mỹ. Đây là lúc xuất hiện liên tiếp những cái mốc đầu tiên cho hầu hết thể loại quy mô lớn về khí nhạc cũng như thanh nhạc, đưa nền nhạc mới Việt Nam vượt qua giới hạn ca khúc. Các nhạc sĩ được đào tạo chính quy trong và ngoài nước đều có ít nhất làm “vốn” một tác phẩm tốt nghiệp viết cho dàn nhạc, góp phần mau chóng lập nên danh mục của nền khí nhạc nước nhà.

Tuy khiêm nhường về số lượng và chủ yếu tập trung vào đề tài ngợi ca, nhưng gia tài khí nhạc Việt Nam khá phong phú về mặt thể loại và hình thức âm nhạc. Sự kế thừa về thể loại và hình thức âm nhạc châu Âu trong cấu trúc tác phẩm rất rõ ràng. Chưa vượt quá tầm ảnh hưởng của âm nhạc bác học phương Tây, nhưng cũng không hoàn toàn cứng nhắc theo khuôn mẫu và đôi chỗ còn thấy lóe lên những phá cách mang tính khuynh hướng.

Thể loại được ưa chuộng hơn cả là giao hưởng một chương. Có lẽ cấu trúc một chương hợp với “cái tạng” của các nhà soạn nhạc Việt Nam, và nếu không được “đặt hàng” mà vẫn ham viết giao hưởng nhiều chương thì e rằng cơ hội dàn dựng và biểu diễn là không có. Những năm sau này, các tác giả cũng quan tâm nhiều hơn đến thể loại concerto cho nhạc cụ độc tấu và dàn nhạc, đáp ứng sự xuất hiện thêm những nhạc công solist có khả năng phô diễn trong cuộc đua tài với cả một tập thể dàn nhạc.

Tìm tòi, sáng tạo để khí nhạc thăng hoa

Tính dân tộc luôn là đích vươn tới trong cuộc kiếm tìm cách biểu hiện riêng ở mỗi nhạc sĩ, đặc biệt trong ngôn ngữ âm nhạc. Hầu hết các tác phẩm khai thác chất liệu âm nhạc cổ truyền hoặc vận dụng phương thức cổ truyền (dùng cấu trúc, thang âm và quãng đặc trưng, nhịp điệu và tiết tấu đặc trưng, cách tiến hành bè và phát triển tuyến nhạc, chồng âm tự do và ngẫu nhiên, âm sắc nhạc cụ dân tộc, phong cách diễn tấu, nghệ thuật phổ thơ của dân ca).

Mượn giai điệu ca khúc nổi tiếng làm chủ đề âm nhạc cũng là một cách “quần chúng hóa” giao hưởng, có thể mang lại cho tác phẩm không chỉ tính phổ cập mà cả tính thời sự. Thêm nữa, bài hát ăn sâu trong ký ức thường làm sống lại trong người nghe kỷ niệm một thời đã qua, dễ gợi lại hình ảnh xưa hay bối cảnh của giai đoạn lịch sử nào đó.

Dựa vào ngữ điệu tiếng Việt: Một điểm độc đáo trong xây dựng chủ đề âm nhạc là phát triển từ ngữ điệu tiếng nói. Đặc tính “có sẵn âm nhạc” trong tiếng Việt đã gợi ra đường nét giai điệu của không ít chủ đề giao hưởng. Giai điệu một câu hát quen thuộc, chẳng hạn câu đầu trong bài “Giải phóng miền Nam" (Lưu Hữu Phước) sinh ra bản khí nhạc “Cuộc đối đầu lịch sử” (Vĩnh Cát), “K’Nhi” (Văn Ký); “Chào năm 2000-Chào thiên niên kỷ mới” (Trọng Bằng) khởi đầu bằng nét nhạc “phổ” trên tiếng reo hân hoan “Chào năm 2000!”; Thị Kính, Thị Mầu (Nguyễn Đình Bảng) mở màn với giai điệu bắt nguồn từ hai câu kinh của nhà Phật: “Nam mô quan thế âm Bồ Tát” và “Nam mô đại thế chí Bồ Tát”...

Những đặc điểm mang tính dân tộc nói trên chứng tỏ mối quan hệ gắn bó giữa khí nhạc với thanh nhạc. Quả là một nền khí nhạc lớn lên từ thanh nhạc, được sinh ra bởi các nhà soạn nhạc đã lớn lên từ thể loại ca khúc đại chúng. Thêm yếu tố khách quan nữa: Công chúng thích nghe thanh nhạc vì thấy quen thuộc và dễ hiểu hơn, do đó những yếu tố ca khúc trong ngôn ngữ khí nhạc có thể giúp tác phẩm giao hưởng thính phòng dễ gần hơn với người nghe.

Tính thời đại là dấu ấn không thể thiếu trong ngôn ngữ khí nhạc bên cạnh những cố gắng tôn vinh tinh thần dân tộc. Dù dùng chất liệu hay phương thức cổ truyền thì đều được nhào nặn qua bàn tay con người thời đại, theo cảm quan thẩm mỹ thời đại. Có thể nói những tác phẩm thính phòng giao hưởng mang hơi thở cuộc sống hiện tại, lưu giữ cái chưa từng có trong quá khứ. Điều đáng chú ý ở đây là những tìm tòi trong sự kết hợp Đông-Tây. Kỹ thuật sáng tác khí nhạc truyền thống phương Tây dần dần được vận dụng theo tinh thần Việt hóa. Tính giai điệu và mạch chảy không ngừng biến đổi ở mỗi bè đã dẫn đến một lối phức điệu (polyphony) khá linh hoạt, vừa uyển chuyển theo lối ngẫu hứng của hòa tấu cổ truyền Việt Nam, vừa tự do theo phong cách nhạc hiện đại phương Tây thế kỷ 20. Sự kết hợp các tầng giai điệu độc lập dễ dàng đưa đến hiệu quả âm thanh đa điệu thức, đa điệu tính và đa tiết tấu.

Các nhạc sĩ thế hệ sau luôn hướng tới cái mới, trong đó có nhạc đương đại, nhạc thử nghiệm, nghệ thuật sắp đặt... Họ tìm tòi ngôn ngữ biểu hiện mới lạ đến mức ngoài sức tưởng tượng và sự tiếp nhận của thế hệ trước. Họ sẵn sàng kết hợp âm nhạc với những yếu tố ngoài âm nhạc, như tác động âm thanh (tiếng động, tiếng ồn trong đời thường); tác động thị giác (ánh sáng, cơ thể, hình khối, kết hợp ngôn ngữ sân khấu hoặc điện ảnh...).

Để góp tiếng nói với diễn đàn âm nhạc chuyên nghiệp quốc tế, giới nhạc đang và sẽ còn phải nỗ lực rất nhiều, trước hết là đưa tác phẩm thính phòng giao hưởng Việt Nam vào đời sống cộng đồng. Song khắc phục những thiếu hụt và tình trạng mất cân đối trong phát triển âm nhạc lại không chỉ là chuyện riêng của giới nhạc. Cần lắm sự hợp lực đồng bộ của nhiều lĩnh vực, tổ chức, ngành nghề liên quan để sớm có được một nền âm nhạc hài hòa giữa thanh nhạc với khí nhạc, giữa ca khúc đại chúng và giao hưởng thính phòng, giữa nhạc giải trí và nhạc hàn lâm.

Mong khí nhạc của Việt Nam luôn lấp lánh những nốt thăng đẹp đẽ!

Nhà lý luận, phê bình âm nhạc NGUYỄN THỊ MINH CHÂU