Bố trí nguồn lực để tăng mức hỗ trợ

Trong câu chuyện với chị Pờ Cố Dứ, Chi hội trưởng Phụ nữ kiêm Đội trưởng Đội văn nghệ dân gian Si La bản Sì Thâu Chải (xã Bum Tở), chúng tôi được biết, các chị em người Si La rất mong muốn được tham gia sinh hoạt đội văn nghệ nhiều hơn, nhưng nhiều lúc vì gánh nặng mưu sinh nên cũng khó thực hiện được. “Có thành viên bảo mỗi lần đi tập văn nghệ là gia đình lại “xô bát xô đũa”. Chồng bảo thà đi làm nương, rẫy kiếm tiền nuôi gia đình chứ đi tập mấy cái thứ văn nghệ đó có ra tiền đâu”, chị Dứ trải lòng.

Trên thực tế, mức hỗ trợ 2-3 triệu đồng/năm cho mỗi đội văn nghệ ở tỉnh Lai Châu hiện nay khó đáp ứng được nhu cầu. Chị Dứ cho biết, nhiều khi nhận tiền hỗ trợ, các thành viên đội văn nghệ bàn nhau mua sắm thêm đạo cụ hoặc các thành viên ai còn thiếu gì thì sắm đó. Bởi vậy, mỗi đợt tập luyện văn nghệ, để khích lệ phong trào, chị em có gì mang theo đấy, người mang theo giỏ trái cây, người mang theo ca nước chè.

Chị Lý Chi Xó, Đội trưởng Đội văn nghệ dân gian Si La bản Seo Hai (xã Bum Tở) nói: “Mỗi khi nhận tiền hỗ trợ, chị em bàn nhau sẽ tổ chức một bữa cơm đoàn kết cuối năm để chung vui chứ với số tiền đó, thật khó có thể mua sắm gì cho đội văn nghệ. Nếu có chế độ tốt hơn thì phong trào văn nghệ tại đội chắc chắn sẽ có bước phát triển mới”.

 Giới thiệu tục nhuộm răng, một trong những nét văn hóa độc đáo của phụ nữ dân tộc Lự. Ảnh: HOA LƯ

 

Bên cạnh mức hỗ trợ các đội văn nghệ còn hạn chế, điều chúng tôi trăn trở là lượng nghệ nhân ưu tú và số lượng người thực hành văn hóa thường xuyên ở cộng đồng dân tộc Cống, Mảng, Si La, Lự hiện chỉ đếm trên đầu ngón tay. Thời gian trôi qua, lớp nghệ nhân dần mất đi, thế hệ trẻ hiện nay do nhiều yếu tố tác động nên chưa mặn mà trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc mình. Ngoài ra, còn một yếu tố khác, quy định phong tặng nghệ nhân hiện nay, khi áp dụng vào những người thực hành văn hóa dân tộc rất ít người đang gặp nhiều khó khăn.

Công tác trong lĩnh vực văn hóa dân tộc thiểu số nhiều năm qua, ông Nguyễn Văn Thọ, cán bộ Phòng Quản lý văn hóa và gia đình (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lai Châu) cho biết: “Theo quy định, việc lập hồ sơ phong tặng danh hiệu nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú đòi hỏi nhiều công đoạn. Trong khi đó, nhiều người thực hành ở cơ sở khó có thể đáp ứng được. Do đó, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lai Châu tham mưu đề xuất với cấp có thẩm quyền cần có chế độ đặc thù trong việc phong tặng danh hiệu nghệ nhân đối với các dân tộc rất ít người. Ví dụ, chỉ cần họ được cộng đồng công nhận là có căn cứ phong nghệ nhân chứ không nhất thiết phải chiếu theo những quy định về giải thưởng, công trình nghiên cứu”.

 Nét đẹp trong điệu múa Tà Nơm của dân tộc Mảng tỉnh Lai Châu. Ảnh: HOA LƯ

 

Chú trọng bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch

Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội, bảo tồn văn hóa các dân tộc rất ít người. Gần đây nhất là Nghị định số 269/2026/NĐ-CP ngày 1-7-2026 của Chính phủ quy định một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số. Một trong những giải pháp cụ thể Nghị định này đưa ra là phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số gắn với du lịch cộng đồng; xây dựng không gian văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch; xây dựng, phát triển sản phẩm văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số tạo sinh kế bền vững; ứng dụng công nghệ trong bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số.

Những năm qua, công tác bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số đã được các cấp ủy, chính quyền của tỉnh Lai Châu quan tâm bằng những cơ chế, chính sách cụ thể. Nghị quyết số 59/2021/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Lai Châu quy định một số chính sách hỗ trợ bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc gắn với phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2021-2025, như mức hỗ trợ khôi phục 2 lễ hội truyền thống của các dân tộc cư trú thành cộng đồng đã bị mai một, gián đoạn và không còn được duy trì trong cộng đồng (không quá 150 triệu đồng/lễ hội); hỗ trợ tổ chức 35 lễ hội/năm, tổng số trong 4 năm tổ chức 140 lễ hội (80 triệu đồng/lễ hội); hỗ trợ khôi phục nghề đan lát dân tộc Mảng (50 triệu đồng/nghề)...

Đề án “Phát triển du lịch cộng đồng Việt Nam trên địa bàn tỉnh Lai Châu đến năm 2030” cũng đặt ra mục tiêu Lai Châu có ít nhất 2 mô hình du lịch cộng đồng đạt tiêu chuẩn ASEAN, 6 mô hình du lịch cộng đồng đạt tiêu chuẩn cấp tỉnh hoặc tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13259:2020; phấn đấu các điểm du lịch cộng đồng đón và phục vụ trên 30% tổng lượng du khách đến với Lai Châu...

 Một tiết mục văn nghệ tại Ngày hội Sắc màu văn hóa dân tộc Lự tỉnh Lai Châu, năm 2026. Ảnh: LÒ DI

 

Đồng chí Lưu Hồng Phương, Phó giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lai Châu cho biết, 5 năm qua, công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc rất ít người của tỉnh Lai Châu đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Giai đoạn 2021-2025, tỉnh Lai Châu bố trí 8.060 triệu đồng cho hoạt động sưu tầm, bảo tồn hiện vật các dân tộc Thái, Mông, Dao, Hà Nhì, La Hủ, Khơ Mú, Lào, Giáy, Kháng, Lự, Si La, Cống, Mảng; phục dựng 14 lễ hội; duy trì tổ chức 39 lễ hội truyền thống của các dân tộc; tổ chức 41 lớp truyền dạy văn hóa truyền thống của các dân tộc. Ngành văn hóa tỉnh đã tập trung khôi phục bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số có dân số ít người như Si La, Mảng, Cống thông qua việc sản xuất 26 phim tài liệu quảng bá, tổ chức 3 lớp truyền dạy Ngữ văn dân gian và 3 chương trình biểu diễn nghệ thuật tái hiện văn hóa truyền thống.

Một số bản du lịch cộng đồng như Sin Suối Hồ, Sì Thâu Chải của xã Tả Lèng; Lao Chải, bản Thẳm của xã Khun Há... đã phát huy hiệu quả. Đây là giải pháp căn cơ góp phần giữ gìn, phát huy tiếng nói, điệu múa, trang phục... của đồng bào các dân tộc. Tuy nhiên, theo đồng chí Lưu Hồng Phương, điều quan trọng là phải tiếp tục bồi dưỡng các hạt nhân văn hóa, khuyến khích các mô hình mới để người dân trực tiếp tham gia thực hiện và hưởng lợi từ các mô hình phát triển du lịch đó. 

Theo nhà nghiên cứu văn hóa Đỗ Thị Tấc, nguyên Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Lai Châu, để bảo tồn di sản văn hóa đặc trưng và tiêu biểu của các dân tộc rất ít người như Cống, Mảng, Lự, Si La, cần đưa chức năng, nhiệm vụ bảo tồn, bảo vệ di sản văn hóa về đúng môi trường và đối tượng, đó là các thôn, bản và người dân, bởi văn hóa sinh ra ở đâu thì chỉ sống và phát triển ở môi trường đó. Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ về vật chất, định hướng và quản lý để các di sản văn hóa đồng hành, phát huy cùng du lịch trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.

Sau gần một tuần “lang thang” nơi cuối trời Tây Bắc, dừng chân tại các bản làng xa xôi, trực tiếp trải nghiệm không gian văn hóa và tìm hiểu phong tục, tập quán của các dân tộc Cống, Mảng, Lự, Si La, chúng tôi cảm nhận rất rõ những đổi thay đang hiển hiện trong đời sống của bà con nơi đây. Chúng tôi hy vọng những giá trị làm nên căn tính, hồn cốt của đồng bào sẽ không bị “cuốn” vào dòng chảy xô bồ của cuộc sống đương đại mà luôn được chú trọng lưu giữ, trao truyền để làm “bảo bối” cho hậu thế. Để làm được điều này, ngoài việc đề cao trách nhiệm của chủ thể các dân tộc Cống, Mảng, Lự, Si La, đòi hỏi phải có sự vào cuộc đầy tâm huyết, nhân văn của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở.