Nhà văn hóa hỏng nên không có nơi sinh hoạt văn nghệ

Đến bản Sì Thâu Chải (xã Bum Tở), nơi cư trú của 67 hộ với 219 nhân khẩu người Si La, khi ngỏ ý muốn đến tham quan nhà văn hóa (NVH) trong bản, chúng tôi được một người dân dẫn ra sát mép bờ sông Đà. Phải vượt qua con đường mòn sụt lún, những bụi cây dại cao quá đầu người, chúng tôi mới nhìn thấy hình hài ngôi NVH bị nứt toác không thể sử dụng, đã bỏ hoang nhiều năm.

Bà Lý Thị Chướng tận tình chỉ bảo các học viên tại lớp truyền dạy bảo tồn văn hóa truyền thống dân tộc Mảng, xã Pa Tần, tỉnh Lai Châu. Ảnh: TRỌNG BẢO 

Tìm gặp chị Khoàng Thị Tự, Phó bí thư Chi bộ bản Sì Thâu Chải, chúng tôi được biết, trước đây, chính quyền đầu tư NVH khang trang, nhưng năm 2017, một đợt sạt lở lớn ở bên hữu sông Đà khiến ngôi nhà bị hư hỏng nghiêm trọng, mất an toàn và không thể sử dụng. Trước thực trạng trên, chính quyền địa phương đã bố trí một điểm sinh hoạt mới nằm cách NVH cũ khoảng 1km. Đây là NVH điểm tái định cư Km69, thuộc khu tái định cư Kan Hồ, huyện Mường Tè cũ. Do đường đi từ bản Sì Thâu Chải đến điểm sinh hoạt văn hóa mới này đường dốc ngoằn ngoèo, hiểm trở, những buổi sinh hoạt lại diễn ra buổi tối, nên người dân bảo nhau tìm một gia đình nào có khoảng sân rộng để sinh hoạt. Chị Khoàng Thị Tự nói: “Gần một năm qua, bản Sì Thâu Chải không họp trực tiếp mà triển khai họp, xin ý kiến qua nhóm zalo. Đội văn nghệ cũng gần một năm qua không có hoạt động gì”.

Thưa thớt dần những khung dệt vải truyền thống

Đến xã Pa Tần, nơi có hơn 1.500 nhân khẩu dân tộc Mảng, hiện ra trước mắt chúng tôi là những ngôi nhà bê tông hiện đại. Cùng với không gian sống thay đổi, văn hóa truyền thống của người Mảng cũng dần vắng bóng trong đời sống. Đáng nói là nguy cơ mai một tiếng dân tộc Mảng, khi ngày càng ít người sử dụng tiếng dân tộc trong giao tiếp hằng ngày. Trẻ em chủ yếu nói tiếng phổ thông ở trường học và khi chơi với bạn bè, còn số người có thể nói tiếng Mảng thành thạo phần nhiều là người lớn tuổi.

Nhà văn hóa bản Sì Thâu Chải (xã Bum Tở, tỉnh Lai Châu) đã bị hư hỏng nặng, không thể sử dụng. Ảnh: HOA LƯ 

Trong nỗi lo sinh kế, người Cống ở xã Mường Tè hiện không còn duy trì việc trồng bông, dệt vải như trước, mà chú trọng hơn vào việc khai thác những cây trồng có hiệu quả kinh tế tốt hơn, cùng với việc chăn nuôi gia súc. Thường thì mỗi người Cống có một bộ trang phục truyền thống, khi cần thêm, họ mua vải công nghiệp có sẵn rồi thuê người may, thậm chí mua luôn quần áo may sẵn. Những họa tiết từng được thêu thủ công tỉ mỉ trên từng bộ quần áo giờ đây được thay thế bằng hoa văn in sẵn. Chia sẻ với chúng tôi, anh Lò Văn Châm, Trưởng bản Láng Phiếu bày tỏ: “Trong bản hiện không có nhà nào còn giữ được khung cửi; người biết thêu thùa, may vá hiện cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay”.

Từ câu chuyện thực tế ở bản Láng Phiếu, chúng tôi bỗng nhớ đến thống kê mà Tiến sĩ Nguyễn Thị Ngân, nguyên Giám đốc Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam đưa ra: “Có tới 40/54 dân tộc ở Việt Nam hiện không còn mặc trang phục truyền thống đúng như những gì mà Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam đang lưu giữ. Thay vào đó, họ mặc trang phục có loại vải công nghiệp bằng sợi tổng hợp, sợi nilon, hoa văn giống hệt nhau, được bày bán tràn ngập trên thị trường".

Ngại tham gia lớp học truyền thống vì không thấy lợi ích kinh tế

Ở bản Nậm Xảo 1 (xã Pa Tần), bà Lý Thị Chướng được cộng đồng ví như “pho sử sống” bởi hiện là người duy nhất có khả năng truyền dạy tiếng nói, điệu múa, thêu may hoàn chỉnh trang phục và khăn choàng truyền thống của người Mảng.

Từ nhỏ, Lý Thị Chướng đã được ông nội kể chuyện lịch sử, dạy tiếng nói, câu hát và những phong tục, tập quán của người Mảng. Khi trưởng thành, bà tiếp tục tìm đến những người am hiểu trong bản để học hỏi thêm về các nghi lễ truyền thống như lễ mừng lúa mới, lễ vào nhà mới, nghi lễ cúng tổ tiên... với mong muốn lưu giữ và truyền lại cho thế hệ sau. Bà Lý thị Chướng chia sẻ: “Tiếng nói, lời ca, điệu múa cùng những phong tục, tập quán truyền thống sẽ không tự nhiên ở lại nếu không có người ghi nhớ và truyền lại. Mỗi câu nói, mỗi làn điệu không chỉ là âm thanh mà còn là ký ức của cha ông được trao lại qua nhiều thế hệ”.

Nhiều năm qua, bà Lý Thị Chướng sưu tầm dân ca, tự ghi âm khoảng 70 bài hát và mở các lớp truyền dạy miễn phí cho trẻ em. Trong một lớp học kéo dài 10 ngày, bà hướng dẫn từ những câu giao tiếp cơ bản bằng tiếng Mảng đến các nghi lễ trong cưới hỏi, lên nhà mới, ma chay, cúng tổ tiên, cầu mong mưa thuận gió hòa. Những bài dân ca, điệu dân vũ từng sử dụng trong các dịp lễ cũng được bà kiên nhẫn truyền lại. Bà Chướng không chỉ dạy hát múa mà còn hướng dẫn người dân dệt, may và thêu trang phục truyền thống. Năm 2025, khi địa phương hỗ trợ mở lớp dạy kỹ thuật dệt, may và thêu trang phục truyền thống cho bà con, bà Chướng tham gia dạy 4 lớp với khoảng 120 học viên.

Nghệ nhân Hù Cố Xuân trăn trở giữ nét đẹp văn hóa dân tộc Si La. Ảnh: MINH HƯNG 

Dù nỗ lực là thế, nhưng bà Chướng vẫn canh cánh trong lòng nhiều nỗi lo. Các bài hát, phong tục, tập quán hiện nay bà cũng chỉ tái hiện khoảng 80-90% so với trước đây, vì lý do mai một trong ký ức, ghi chép và không gian, điều kiện truyền dạy. Đồng thời, lớp trẻ cũng thiếu sự quan tâm đến văn hóa dân tộc. Tại các lớp học của bà, người từ 10 đến 30 tuổi tham gia ít hơn so với người lớn tuổi. Đồng thời, trong số các học viên, chỉ khoảng 70% có thể thực hành lại những kỹ năng đã được hướng dẫn.“Người biết nghề, thạo văn hóa thì ngày càng ít. Người dạy có thể bỏ công sức, nhưng việc truyền dạy muốn duy trì được thì vẫn cần lớp học, kinh phí và người học thực sự muốn tiếp nhận. Thế nhưng, hiện nay, ngay cả khi đã có lớp dạy miễn phí, bà con vẫn đặt nặng chuyện có hỗ trợ thì mới theo học. Mọi người vẫn mang tư tưởng đi học vừa tốn thời gian, vừa không làm ra tiền bạc. Họ lựa chọn không tham gia các lớp học vì không thấy lợi ích kinh tế”, bà Lý Thị Chướng trăn trở.

Nỗi lo tìm kiếm người tiếp nối, kế thừa

Ở bản Seo Hai (xã Bum Tở), Nghệ nhân Ưu tú Hù Cố Xuân là một trong những người vẫn bền bỉ gìn giữ văn hóa của dân tộc Si La. Bên tách trà thơm, chúng tôi ngồi nghe bà kể về văn hóa người Si La. Càng trò chuyện, ánh mắt bà càng sáng, giọng nói càng hào hứng. Qua cách bà say sưa kể về tiếng nói, câu hát và những phong tục của dân tộc Si La, câu chuyện bà đã dành nhiều năm để gìn giữ văn hóa của dân tộc dần hiện ra, giúp chúng tôi cảm nhận rõ sự gắn bó, tâm huyết của bà với văn hóa.

Từ khi còn trẻ, bà Xuân đã có ý thức gìn giữ văn hóa Si La. Đến năm 2006, bà nghỉ hưu sau quãng thời gian làm giáo viên và trở thành Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Kan Hồ cũ. Từ đó, bà dành thời gian để nghiên cứu những câu hát, điệu múa và phong tục của dân tộc Si La. Năm 2007, bà bắt đầu sưu tầm, ghi chép và tìm cách truyền dạy văn hóa Si La đến cộng đồng mình. Bà tìm gặp những người cao tuổi, ghi chép lại những gì nghe được, rồi tìm cách tập hợp chị em trong bản để cùng học và thực hành.

Việc truyền dạy trong những ngày đầu gặp không ít khó khăn; phần vì chính bản thân bà không còn nhớ hết các bài dân ca cổ, những điệu múa, những dụng cụ trong từng điệu múa; phần vì xã hội ngày càng phát triển, thế hệ trẻ không còn mặn mà, tha thiết với những làn điệu ca cổ, hay điệu múa dân gian. Bên cạnh đó, mọi người bận làm nương và tất bật lo cho cuộc sống gia đình nên không còn thời gian để cùng bà tập luyện.

Những hiểu biết về văn hóa của bà và các thành viên trong đội văn nghệ cũng dần được đưa vào công việc sưu tầm, bảo tồn. Với Dự án “Hỗ trợ phát triển các dân tộc rất ít người”, bà Xuân được mở lớp truyền dạy văn hóa đến mọi người. Không chỉ vậy, khi công tác bảo tồn văn hóa Si La được quan tâm hơn, bà đã phối hợp cùng các nhà nghiên cứu, cơ quan chuyên môn biên dịch tư liệu, hoàn thành cuốn sách “Dân ca Si La”.

Thế nhưng, giọng bà Xuân chùng xuống và ánh nhìn dần đượm buồn khi nhắc đến nỗi lo tìm người tiếp nối, kế thừa. “Tôi rất lo những gì bản thân đã mất nhiều năm tìm kiếm, ghi chép và truyền lại rồi sẽ trao cho ai, khi lớp trẻ không còn mặn mà. Tôi có thể tiếp tục giữ những câu hát, điệu múa và tiếng nói thêm nhiều năm nữa, nhưng văn hóa chỉ thực sự được tiếp nối khi có người trẻ quan tâm, gìn giữ và lan tỏa”, bà Hù Cố Xuân trải lòng.

(còn nữa)