Từ hai sắc thái thẩm mỹ đến tài sản văn hóa chung

Theo TS Cao Ngọc, nhà phê bình lý luận sân khấu, sự khác biệt giữa cải lương Nam và cải lương Bắc không phải là sự chia tách hay đối lập, mà là biểu hiện sinh động của tính đa dạng vùng miền trong cùng một thể thống nhất. Cải lương Nam Bộ mang đậm chất tài tử, phóng khoáng, tự nhiên và ngấm sâu cái “mùi”, cái “tình”. Gắn liền với đờn ca tài tử và nếp sống của cư dân phương Nam, câu vọng cổ ở đây trở thành nơi nhân vật giãi bày trọn vẹn số phận, dễ dàng chạm trực tiếp đến cảm xúc đại chúng. Cải lương Bắc Bộ được định hình trong không gian văn hóa giàu tính quy phạm của chèo, tuồng, ca trù và kịch nói. Người nghệ sĩ miền Bắc tiếp nhận cải lương qua sự điều chỉnh về thổ âm và thị hiếu, tạo nên dấu ấn ở tính mực thước, sự trang nhã, kết cấu kịch bản chặt chẽ và sự nghiêm cẩn trong dàn dựng.

Quá trình giao thoa giữa hai miền tạo nên sự bổ khuyết giá trị: Cải lương miền Nam mang lại nền tảng âm nhạc cùng sức sống tự nhiên; miền Bắc đóng góp cấu trúc kịch bản mạch lạc và chiều sâu tư tưởng. Tuy nhiên, giới chuyên môn cũng chỉ ra một nghịch lý, dù các hoạt động giao lưu, hợp tác chuyên môn giữa hai miền diễn ra ngày càng thường xuyên, cải lương vẫn chưa tạo ra được những hiện tượng nghệ thuật đủ sức mạnh để kéo đông đảo khán giả quay trở lại rạp.

Cảnh trong vở cải lương “Bất tử với Thăng Long”, nội dung ca ngợi sự trung hiếu của Tổng đốc Nguyễn Tri Phương, do Nhà hát Sân khấu truyền thống quốc gia Việt Nam biểu diễn.  Ảnh: THÚY HIỀN 

Chiến lược tái cấu trúc và chính sách kiến tạo

Thực tế hiện nay cho thấy, nghệ thuật cải lương ở cả hai miền đang đứng trước những áp lực cạnh tranh gay gắt. Trong bối cảnh đó, việc bảo tồn và phát triển cải lương không còn dừng lại ở câu chuyện giữ gìn hoài niệm mà đòi hỏi một tư duy tái cấu trúc toàn diện. Đề tài khoa học cấp quốc gia: “Nghiên cứu sự khác biệt của nghệ thuật cải lương Nam-Bắc trong xã hội đương đại” do TS, Nghệ sĩ Nhân dân Triệu Trung Kiên, Phó giám đốc Nhà hát Sân khấu truyền thống quốc gia Việt Nam làm chủ nhiệm, thực hiện trong giai đoạn 2025-2026, tập trung xác định những đặc điểm riêng biệt, độc đáo của thể loại, từ đó làm rõ sự khác biệt của nghệ thuật cải lương Nam-Bắc trong xã hội đương đại thể hiện trên các phương diện: Âm nhạc, kịch bản và biểu diễn; trên cơ sở nghiên cứu thực trạng hoạt động biểu diễn nghệ thuật cải lương hiện nay ở hai miền, tìm ra các giải pháp hiệu quả để bảo tồn và phát huy giá trị của nghệ thuật cải lương trong xã hội đương đại.

Thạc sĩ Cao Thị Phương Dung, Trường Đại học Sân khấu-Điện ảnh Hà Nội và đạo diễn, nhà báo Nguyễn Thanh Hiệp, Trưởng ban Lý luận phê bình Hội Sân khấu TP Hồ Chí Minh cùng chỉ ra những mắt xích đang bị nghẽn trong hệ sinh thái cải lương, như: Lực lượng khán giả trung thành giảm sút; thiếu các không gian biểu diễn định kỳ và ổn định. Đội ngũ sáng tác và biểu diễn trẻ chưa đủ mạnh để gánh vác những tác phẩm lớn. Tác phẩm thường chỉ dàn dựng để phục vụ hội diễn rồi đóng băng, thiếu đời sống thương mại tiếp theo; cơ chế đặt hàng, đầu tư, xã hội hóa và bảo vệ bản quyền chưa theo kịp thực tiễn.

Trước áp lực sinh tồn, nhiều nghệ sĩ đã chủ động tìm tòi những phương thức thể hiện mới. Xu hướng kết hợp cải lương với các chất liệu nghệ thuật khác đang tạo ra những tín hiệu chuyển biến rõ nét. Điển hình như vở “Ngàn năm mây trắng” (Nhà hát Đài Tiếng nói Việt Nam) hòa quyện cải lương với chèo, xẩm, ca Huế và hát văn, mở rộng không gian biểu diễn mà không làm hòa tan bản sắc.

Các tác phẩm cải lương kết hợp xiếc như “Cây gậy thần”, “Thượng thiên Thánh mẫu”, “Trần Nhân Tông” đưa ngôn ngữ hình thể, kỹ thuật nhào lộn, đu dây vào cấu trúc sân khấu, đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghe nhìn của khán giả hiện đại. Trên không gian số, nghệ sĩ trẻ đưa đến các tác phẩm kết hợp vọng cổ với nhạc rap, nhạc điện tử; đưa trích đoạn cải lương vào những không gian văn hóa du lịch và trường học.

Theo TS, Nghệ sĩ Ưu tú Lê Nguyên Đạt, Trường Đại học Sân khấu-Điện ảnh TP Hồ Chí Minh: “Hiện đại hóa cải lương không đồng nghĩa với kịch nói hóa, giao hưởng hóa hay sân khấu hóa hình thức bên ngoài. Cải lương có thể tiếp nhận nhiều yếu tố mới, nhưng không được đánh mất năng lực biểu hiện nội tâm bằng lời ca”.

Để giải quyết bài toán tồn tại và phát triển của cải lương, các chuyên gia và nhà quản lý đã đưa ra những định hướng mang tính chiến lược, chuyển từ các nỗ lực tự phát sang cơ chế vận hành bài bản. Theo TS, Nghệ sĩ Nhân dân Triệu Trung Kiên, nghệ thuật biểu diễn là một phần quan trọng nằm trong nguồn lực văn hóa tạo nên sức mạnh mềm của quốc gia. Do đó, việc bảo tồn cải lương cần sự can thiệp đồng bộ về mặt chính sách. Thạc sĩ Cao Thị Phương Dung dẫn chứng kinh nghiệm từ Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ-những quốc gia thành công nhờ có cam kết dài hạn từ Nhà nước thông qua hành lang pháp lý rõ ràng, ngân sách ổn định, hệ thống đào tạo chuyên sâu từ sớm và chiến lược quảng bá uy tín quốc tế.

Sự khác biệt Nam-Bắc vốn là kết quả tự nhiên của lịch sử và địa văn hóa. Trong bối cảnh hiện nay, việc phát huy tinh hoa của từng dòng chảy, kết hợp với một phương thức vận hành hiện đại và hệ thống chính sách đủ mạnh chính là chìa khóa để nghệ thuật cải lương giữ vững bản sắc, tiếp tục khẳng định giá trị trong đời sống xã hội đương đại.