Mạng lưới hạ tầng giao thông quốc gia có bước phát triển vượt bậc

Đối với xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định một trong những trọng tâm là ưu tiên phát triển một số công trình trọng điểm quốc gia về giao thông, thích ứng với biến đổi khí hậu. Triển khai thực hiện nghị quyết, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc với tinh thần quyết liệt, sáng tạo, đổi mới tư duy, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển hạ tầng với tái cơ cấu ngành, phát triển vùng và chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Mạng lưới kết cấu hạ tầng giao thông quốc gia có bước phát triển vượt bậc, tăng cường đáng kể năng lực vận tải trên một số hành lang giao thông quan trọng. Nhiều công trình hạ tầng quy mô lớn, có ý nghĩa chiến lược đối với vùng và kết nối liên vùng được hoàn thành.

Diện mạo kết cấu hạ tầng đất nước thay đổi lớn khi hoàn thành mục tiêu 3.000km đường bộ cao tốc vào cuối năm 2025; khởi công và hoàn thành giai đoạn 1 Cảng hàng không quốc tế Long Thành; bổ sung, điều chỉnh kịp thời quy hoạch các cảng hàng không để thu hút đầu tư, nhất là Cảng hàng không quốc tế Gia Bình đã được triển khai ngay trong năm 2025. Về đường sắt, đã khởi công dự án thành phần 1 dự án đường sắt Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng, tuyến số 5 đường sắt đô thị Văn Cao-Ngọc Khánh-Láng-Hòa Lạc (Hà Nội) và tuyến tàu điện đô thị tại Phú Quốc (tỉnh An Giang). Tích cực chuẩn bị để phấn đấu khởi công Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc-Nam, dự kiến trong năm 2026. Nhiều dự án hàng không quan trọng khác cũng được hoàn thành như: Nhà ga T3-Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất; mở rộng Nhà ga hành khách T2, Cảng hàng không quốc tế Nội Bài. Tổng công suất khai thác các trung tâm đầu mối vận tải hàng không cả nước được nâng từ 92,4 triệu hành khách/năm (năm 2020) lên 155 triệu hành khách/năm (năm 2025), tăng 1,6 lần. Năng lực hệ thống cảng biển đến nay khoảng 900 triệu tấn/năm, tăng gần 1,3 lần so với 730 triệu tấn/năm của năm 2020, góp phần thúc đẩy hoạt động xuất, nhập khẩu và phát triển kinh tế biển.

 Cao tốc TP Hồ Chí Minh - Long Thành nhìn từ trên cao. Ảnh: qdnd.vn

Công tác quản lý chi phí đầu tư ngày càng được hoàn thiện, hệ thống định mức, đơn giá từng bước được kiểm soát tốt, góp phần phòng, chống lãng phí, thất thoát và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Các chủ trương, chính sách mới của Đảng được chú trọng quán triệt và triển khai kịp thời, đồng bộ nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước nhanh, bền vững, góp phần đưa xây dựng trở thành ngành trụ cột trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Đổi mới tư duy, khơi thông nguồn lực

Thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Bộ Xây dựng đã ban hành, triển khai Chương trình hành động của Bộ tạo môi trường thuận lợi, minh bạch để thu hút khu vực tư nhân tham gia phát triển hạ tầng giao thông. Sau khi Nghị quyết được ban hành, đến nay, tổng số vốn huy động từ khu vực tư nhân tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng quốc gia ước khoảng 3,84 triệu tỷ đồng (chiếm 74,6% tổng nguồn vốn). Bộ Xây dựng đã đề xuất nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt nhằm thu hút và thúc đẩy hiệu quả đầu tư công, đầu tư tư nhân, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ các dự án hạ tầng trọng điểm, thể hiện tư duy đổi mới, tầm nhìn dài hạn và khát vọng phát triển đất nước nhanh, bền vững. Trong đó, tập trung nghiên cứu, hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù cho dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc-Nam, bổ sung nghiên cứu thêm các phương thức đầu tư tư nhân nhằm tạo khung pháp lý thuận lợi hơn để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Đây là bước đổi mới quan trọng, vừa giảm gánh nặng ngân sách nhà nước, vừa khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào các công trình hạ tầng chiến lược, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phù hợp với các định hướng của Đảng.

Công tác chỉ đạo, điều hành tiếp tục có nhiều đổi mới, sáng tạo, quyết liệt, hiệu quả, tập trung xử lý nhanh, dứt điểm nhiều tồn tại, khó khăn, vướng mắc, đặc biệt là các vướng mắc kéo dài liên quan đến thể chế, quy hoạch, thủ tục đầu tư xây dựng, quản lý chất lượng công trình và các dự án trọng điểm quốc gia. Công tác xây dựng thể chế, chính sách trong lĩnh vực xây dựng và giao thông vận tải tiếp tục được Chính phủ đặc biệt quan tâm, coi đây là nền tảng để tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, cải thiện môi trường đầu tư và tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển hạ tầng đồng bộ, hiện đại, bền vững theo đúng tinh thần chỉ đạo của Đảng, Nhà nước.

Nhờ có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, Chính phủ, Bộ Xây dựng và địa phương, thời gian qua, nhiều khó khăn, vướng mắc trong thực hiện các dự án trọng điểm của nhà nước, ngành giao thông, kể cả dự án cao tốc Bắc-Nam giai đoạn 1 cũng đã từng bước được tháo gỡ. Nhiều dự án đã rút ngắn được thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng, huy động được các nguồn trong thực hiện, tránh kéo dài, đội vốn, gây lãng phí hoặc làm suy giảm hiệu quả trong đầu tư khai thác dự án.

Tập trung nguồn lực cho hạ tầng chiến lược

Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2021-2030, các kết luận của Bộ Chính trị về phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đã xác định những mục tiêu quan trọng như: Hoàn thành 5.000km đường cao tốc vào năm 2030; đẩy nhanh tiến độ thi công đường sắt Lào Cai-Hà Nội- Hải Phòng; khởi công dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc-Nam; đầu tư xây dựng mới và nâng cấp các công trình hạ tầng chiến lược chuyên ngành hàng hải, đường thủy, hàng không (các cảng hàng không quốc tế: Long Thành giai đoạn 2, Phú Quốc, Gia Bình...; cảng biển tại Lạch Huyện, Nam Đồ Sơn, Cái Mép-Thị Vải, Liên Chiểu...; nâng cấp, mở rộng các tuyến luồng hàng hải).

Để phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, thông minh, nguồn lực Trung ương được xác định tập trung cho hạ tầng chiến lược, công trình trọng điểm. Hình thành cơ bản bộ khung kết cấu hạ tầng quốc gia, tập trung đầu tư trục giao thông đường bộ cao tốc Bắc-Nam phía Đông, một số đoạn đường bộ cao tốc Bắc-Nam phía Tây, trục đường bộ Đông-Tây quan trọng; các cảng biển cửa ngõ kết hợp trung chuyển quốc tế; các cảng hàng không lớn; tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc-Nam, các tuyến đường sắt kết nối quốc tế và các cảng biển trung chuyển quốc tế. Hình thành các tuyến cao tốc kết nối liên vùng, các cảng biển cửa ngõ quốc tế, cảng hàng không quốc tế, các cửa khẩu quốc tế có nhu cầu xuất, nhập khẩu hàng hóa lớn.

Cùng với đó, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thi công, bảo đảm tiến độ, chất lượng các dự án, trọng tâm là đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị, các dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia. Đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền trong công tác đầu tư, quản lý hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, trong đó, giao các địa phương là cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cơ quan quyết định đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, cảng hàng không để các địa phương chủ động cân đối nguồn lực.

Để hiện thực hóa các mục tiêu về phát triển kết cấu hạ tầng giao thông chiến lược, trong thời gian tới rất cần sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và sự đồng hành của Nhà nước đối với các doanh nghiệp trong phát triển, ứng dụng khoa học-công nghệ. Các cơ chế, chính sách cần gắn chặt hơn nữa với thực tiễn để kịp thời tháo gỡ những bất cập, vướng mắc, điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực. Việc phân cấp, phân quyền cần được triển khai theo hướng tạo thuận lợi để Trung ương, địa phương cùng thực hiện mục tiêu đề ra.

Dự thảo báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ XIV của Đảng tiếp tục xác định các đột phá chiến lược để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước. Trong đó, tiếp tục hoàn thiện đồng bộ và đột phá mạnh mẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội; nhất là kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức, hạ tầng công nghệ phục vụ cho quá trình quản lý, quản trị và kiến tạo phát triển, hạ tầng phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Bảo đảm mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số, phát triển nhanh, bền vững, xanh hóa, số hóa thời gian tới, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đề nghị ngành xây dựng đột phá trong tư duy và tầm nhìn, đề xuất cơ chế, chính sách để tiếp tục triển khai xây dựng hạ tầng chiến lược và hoàn thành các dự án, công trình trọng điểm quốc gia. Bên cạnh đó, đột phá trong phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế tri thức. Có cơ chế khuyến khích để huy động nguồn lực, đẩy mạnh hợp tác công tư. Tăng cường quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư xây dựng, bảo đảm chất lượng, tiến độ, an toàn, hiệu quả và phòng, chống thất thoát, lãng phí. Thủ tướng khẳng định, phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, vừa cấp bách, vừa lâu dài, nhằm tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của đất nước./.