Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hàng đầu thế giới
Kết thúc năm 2025, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng ước đạt 8,02%, thuộc tốp cao hàng đầu thế giới. Năng suất lao động ước tương đương 9.809USD/lao động (tăng 626USD so với năm 2024) và tăng 6,83% theo giá so sánh. Tính chung giai đoạn 2021-2025, Việt Nam đã đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu chủ yếu, trong đó vượt toàn bộ chỉ tiêu về xã hội và an sinh xã hội. Tổng sản phẩm nội địa (GDP) bình quân tăng 6,3% (cao hơn mức tăng 6,2% của nhiệm kỳ trước).
Quy mô nền kinh tế tăng gần 1,5 lần, từ 346 tỷ USD năm 2020 lên 514 tỷ USD năm 2025 và tăng 5 bậc, lên vị trí 32 thế giới và thứ 4 trong ASEAN. GDP bình quân đầu người năm 2025 ước đạt khoảng 5.026USD, gấp 1,4 lần năm 2020, đưa nước ta vào nhóm thu nhập trung bình cao. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định. Cơ cấu kinh tế và chất lượng tăng trưởng chuyển biến tích cực. Lạm phát được kiểm soát dưới 4%. Các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm.
 |
| Ảnh minh họa: baochinhphu.vn |
Quy mô thương mại tăng mạnh 1,7 lần, từ 545,4 tỷ USD năm 2020 lên mức kỷ lục hơn 930 tỷ USD năm 2025 (kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 475,04 tỷ USD, tăng 17,0% và nhập khẩu đạt 455,01 tỷ USD, tăng 19,4% so với năm trước), thuộc nhóm 20 quốc gia dẫn đầu thế giới. 10 năm liên tiếp Việt Nam là nền kinh tế xuất siêu. Du lịch phục hồi, năm 2025 đón khoảng 22 triệu lượt khách quốc tế, cao nhất từ trước đến nay. Đặc biệt, năm 2025, lần đầu tiên cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam chạm mốc 1 triệu doanh nghiệp sau 5 năm lỡ hẹn, tăng hơn 20% so với năm 2020. Theo StartupBlink, chỉ số hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu năm 2025 của Việt Nam xếp thứ 55/100 quốc gia, vùng lãnh thổ.
Công nghiệp công nghệ số Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao, là nền tảng cho sự phát triển của kinh tế số nhanh nhất Đông Nam Á trong 3 năm liên tiếp gần đây, với khoảng 20%/năm, cao gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng GDP.
Tổng thu ngân sách nhà nước ước đạt hơn 9,6 triệu tỷ đồng, gấp 1,36 lần nhiệm kỳ trước, vượt xa mục tiêu 8,3 triệu tỷ đồng; trong khi miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí... khoảng 1,1 triệu tỷ đồng; tăng thu, tiết kiệm chi 1,57 triệu tỷ đồng. Mặt bằng lãi suất cho vay bình quân giảm 2,5% so với năm 2022. Nợ công giảm từ 44,3% GDP năm 2020 xuống còn khoảng 35-36% năm 2025 (giới hạn là 60% GDP). Bội chi ngân sách nhà nước bình quân giảm từ 3,53% GDP giai đoạn 2016-2020 xuống 3,1-3,2% GDP. Tổ chức FTSE đã nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam từ cận biên lên mới nổi thứ cấp.
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 33,2% GDP, đạt mục tiêu 32-34%. Vốn đầu tư công đạt khoảng 3,4 triệu tỷ đồng, tăng gần 55% (số tuyệt đối tăng 1,2 triệu tỷ đồng) so với nhiệm kỳ trước. Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 185 tỷ USD, tăng gần 9% so với nhiệm kỳ trước và thuộc nhóm 15 nước đang phát triển thu hút FDI lớn nhất thế giới.
Đến hết năm 2025, Việt Nam hoàn thành 3.245km đường bộ cao tốc (vượt mục tiêu là 3.000km) và 1.711km đường ven biển (vượt mục tiêu là 1.700km). Hạ tầng giao thông, văn hóa, xã hội được đầu tư mạnh mẽ, là cơ sở để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới.
Chỉ số phát triển con người (HDI) tăng 18 bậc, xếp hạng 93/193 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng từ 90,2% năm 2020 lên 95,2% năm 2025. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,4% năm 2021 xuống 1,3% năm 2025. Thu nhập bình quân người lao động hằng tháng tăng từ 5,5 triệu đồng năm 2020 lên 8,3 triệu đồng năm 2025. Hoàn thành mục tiêu cơ bản xóa nhà tạm, nhà dột nát sớm 5 năm 4 tháng với hơn 334.000 căn nhà. Chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam xếp hạng 51/165, tăng 37 bậc so với năm 2016. Theo Liên hợp quốc, chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2025 xếp thứ 46/143, tăng 37 bậc so với năm 2020. Tuổi thọ người dân trung bình 74,7 tuổi.
Tầm nhìn trong kỷ nguyên mới
Hiện nay, bối cảnh thế giới phức tạp, khó lường, gắn với sự gia tăng cạnh tranh địa chính trị và tái cấu trúc trật tự kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế mới theo hướng đa cực, đa trung tâm. Sự phân mảnh công nghệ và tái cơ cấu các chuỗi cung ứng kinh tế thế giới diễn ra đồng thời với chạy đua, đối kháng về khoa học, công nghệ, về kinh tế, về tài nguyên, yêu cầu bảo vệ sở hữu trí tuệ, bảo vệ môi trường và bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng ngày càng cao, nghiêm ngặt hơn...
Trong bối cảnh đó, Dự thảo Báo cáo Chính trị và các Văn kiện Đại hội XIV đã xác định các phương hướng, nhiệm vụ, biện pháp và chương trình hành động cụ thể để Việt Nam đạt được các mục tiêu cao chưa từng có. Theo đó, Việt Nam phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân cho giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500USD. Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP. Tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP...
Đặc biệt, dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng xác định nhiệm vụ đột phá thể chế, xác định đúng vai trò của kinh tế tư nhân và khoa học, công nghệ đang tạo làn gió tươi mới để phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của các khu vực kinh tế, khơi dậy các nguồn động lực mới.
Không gian phát triển cũng sẽ được mở rộng gắn với quá trình hoàn thiện mô hình tổ chức hệ thống chính trị 3 cấp, chính quyền địa phương hai cấp theo hướng tinh, gọn, mạnh, nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước-thị trường-xã hội để thị trường thực sự có vai trò quyết định trong huy động và phân bổ nguồn lực. Xác lập mô hình tăng trưởng mới, nhấn mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ; cũng như nhấn mạnh quan điểm “phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm”, với trọng tâm là nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; tạo ra sức sản xuất mới, phương thức, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh mới. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa tự chủ sản xuất trong nước với việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Lấy kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là động lực chính; tập trung vào sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, hàm lượng công nghệ cao, tỷ lệ nội địa hóa cao, dựa trên nội lực là các doanh nghiệp nội địa...
Để hiện thực hóa các mục tiêu, tầm nhìn mới, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và hệ thống chính trị các cấp trên cả nước cần chung sức, đồng lòng, nhận diện sớm, tranh thủ mọi thuận lợi, thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, kết hợp chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ trọng tâm.
Phải đề cao nhiệm vụ tiếp tục nâng cao vai trò, năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý, quản trị, kiến tạo phát triển của Nhà nước. Cần ưu tiên xây dựng các tập đoàn kinh tế tư nhân tầm cỡ khu vực và toàn cầu, có năng lực cạnh tranh quốc tế, có sứ mệnh dẫn dắt, hỗ trợ trở lại các doanh nghiệp nội địa khác cùng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, phải củng cố mạnh mẽ khu vực doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn kinh tế nhà nước. Rất cần có chính sách riêng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển, cũng như thành phần kinh tế hộ gia đình và kinh tế hợp tác xã, khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp và phát triển mô hình hợp tác xã kiểu mới, hiệu quả.
Quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo nguyên tắc “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ sản phẩm, rõ hiệu quả” trong quy trình quản lý nhà nước; khắc phục triệt để tình trạng né tránh, vô chủ, vô trách nhiệm và vô hiệu hóa lẫn nhau, tranh công đổ tội, nói không đi đôi với làm của cán bộ, cơ quan; loại bỏ triệt để những biến tướng và tàn dư của cơ chế xin-cho, bịt chặt các kẽ hở thể chế dễ nảy sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, phát sinh phiền nhiễu và tốn kém... nguyên nhân làm mất uy tín, giảm động lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động, cản trở tiến bộ và phát triển của xã hội, tập thể và cá nhân.
Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác, nhất là khi thị trường hay đối tác đó có sự biến động. Thực hiện nhiều hình thức hội nhập kinh tế quốc tế với các lộ trình linh hoạt, phù hợp với điều kiện, mục tiêu của đất nước từng giai đoạn; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tăng cường đổi mới sáng tạo, phát triển và từng bước làm chủ khoa học, công nghệ đáp ứng yêu cầu cạnh tranh quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc.
Với chính sách, định hướng đúng đắn, tin rằng, nền kinh tế Việt Nam sẽ tăng tốc phát triển trong giai đoạn tới, để đạt tốc độ tăng trưởng GDP hơn 10% và thực hiện được mục tiêu là nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.