Chưa bao giờ đất nước ta cùng lúc hội tụ nhiều yếu tố chuyển động lớn như hiện nay: Cải cách thể chế mạnh mẽ theo tinh thần Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế sâu rộng, khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực then chốt, và kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Trên nền những chuyển động ấy, văn hóa được đặt lại ở vị trí trung tâm. Nhưng để biến những định hướng và lợi thế ấy thành hiện thực trong nhiệm kỳ Đại hội XIV, chúng ta cần thẳng thắn nhìn nhận 15 thách thức lớn đang đặt ra cho sự phát triển văn hóa Việt Nam hôm nay từ đó tìm đường bứt phá cho phát triển văn hóa và đất nước.

1. Khoảng cách giữa nhận thức - chính sách - hành động - kết quả trong lĩnh vực văn hóa

Trong tất cả các văn kiện lớn của Đảng, văn hóa đã được khẳng định nhiều lần là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển. Nhưng nhìn vào thực tiễn, có thể thấy khoảng cách từ nhận thức đúng đến hành động đúng, từ chính sách đúng đến kết quả đúng vẫn còn khá xa.

Ngân sách cho văn hóa tuy đã có bước tăng, nhưng tỷ trọng trong tổng chi ngân sách vẫn còn khiêm tốn; nhiều địa phương vẫn khó đạt mức khoảng 2% chi cho văn hóa – con số vốn đã không phải là cao nếu so với tầm quan trọng của lĩnh vực này. Trong không ít báo cáo phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa vẫn thường xuất hiện ở phần cuối, với những dòng tổng kết chung chung, thiếu những chỉ tiêu đo lường cụ thể: Tỷ lệ người dân tham gia hoạt động văn hóa, mức độ hài lòng về đời sống tinh thần, số lượng doanh nghiệp sáng tạo, chỉ số sức mạnh mềm địa phương…

Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Chúng ta chưa quan tâm tương xứng đến văn hóa so với kinh tế, chính trị, xã hội”, và yêu cầu phải tạo “chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện” trong nhận thức và hành động. Điều đó có nghĩa là, thách thức đầu tiên không nằm ở chỗ chúng ta chưa nói đủ về văn hóa, mà ở chỗ chưa làm đủ, làm đến nơi đến chốn để văn hóa thực sự trở thành nền tảng và động lực phát triển.

2. Quản trị văn hóa trong bối cảnh bộ máy tinh gọn và chính quyền địa phương hai cấp

Từ ngày 1-7-2025, Việt Nam chính thức vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, gắn với việc sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp huyện, hướng tới 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, thành trong thời gian tới. Đây là một trong những cuộc cải cách mạnh mẽ nhất về tổ chức bộ máy trong nhiều thập niên.

Tinh gọn bộ máy giúp giảm tầng nấc, tăng hiệu lực, hiệu quả quản lý, nhưng cũng đồng nghĩa với việc khối lượng công việc của mỗi đơn vị, mỗi cán bộ tăng lên, trong khi nhân lực không tăng, thậm chí còn giảm. Ở cấp cơ sở, nhiều cán bộ văn hóa phải kiêm nhiệm: Văn hóa – thông tin – thể thao – du lịch – gia đình – phong trào… Điều đó đòi hỏi họ không chỉ nắm vững chuyên môn, mà còn phải có kỹ năng quản trị, điều phối, huy động xã hội, xử lý khủng hoảng truyền thông, ứng dụng công nghệ số.

Trong khi đó, nhiều khảo sát nội bộ cho thấy tỷ lệ cán bộ quản lý văn hóa được đào tạo đúng ngành, có trình độ sau đại học, am hiểu về công nghiệp văn hóa, văn hóa số… còn thấp; độ chênh giữa trung ương – địa phương, đô thị – nông thôn rất lớn. Nếu không kịp thời có chiến lược bồi dưỡng, tái đào tạo, thì bộ máy tinh gọn có nguy cơ trở thành “bộ máy quá tải”, làm công tác văn hóa nặng về sự vụ, phong trào, thiếu chiều sâu.

Thách thức ở đây là phải xây dựng năng lực quản trị văn hóa phù hợp với mô hình chính quyền hai cấp, trong khi nguồn nhân lực và nguồn lực tài chính không phải vô hạn.

Đại hội XIV của Đảng là một kỳ đại hội mang dấu mốc đặc biệt quan trọng trên con đường phát triển của đất nước. Nguồn: VGP

3. Chất lượng đội ngũ cán bộ văn hóa chưa theo kịp yêu cầu phát triển mới

Nhân lực là “linh hồn” của mọi chiến lược văn hóa. Trong kỷ nguyên công nghiệp văn hóa – kinh tế sáng tạo – chuyển đổi số – trí tuệ nhân tạo, người làm văn hóa không chỉ cần hiểu truyền thống, di sản, nghệ thuật, mà còn phải biết xây dựng chiến lược, quản trị dự án, hiểu biết thị trường, sử dụng thành thạo công cụ số, có tư duy liên ngành và năng lực truyền thông.

Trong khi đó, hệ thống đào tạo cán bộ văn hóa hiện nay vẫn thiên về hành chính, quản lý sự vụ, chậm cập nhật các tri thức mới về kinh tế sáng tạo, quản trị sáng tạo, thiết kế trải nghiệm, phân tích dữ liệu văn hóa… So với những nước đã thành công trong công nghiệp văn hóa như Hàn Quốc, Anh, Pháp, Singapore – nơi nhân lực văn hóa được đào tạo theo mô hình liên ngành (culture + management + technology + marketing) – chúng ta đang đi sau một quãng đáng kể.

Tổng Bí thư Tô Lâm, trong phát biểu kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống ngành Văn hóa, đã đặt kỳ vọng lớn vào đội ngũ này, coi trí thức, văn nghệ sĩ là “những kỹ sư tâm hồn của nhân dân” và mong muốn họ tiếp tục bền bỉ sáng tạo, góp phần bồi đắp sức mạnh tinh thần dân tộc. Kỳ vọng đó chỉ có thể trở thành hiện thực nếu đội ngũ cán bộ văn hóa, văn nghệ sĩ, nhà quản lý văn hóa được tạo điều kiện phát triển toàn diện, cả về chuyên môn, chính trị, lẫn kỹ năng nghề nghiệp mới.

4. Hoàn thiện thể chế văn hóa theo tinh thần Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Nghị quyết 66 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đặt ra yêu cầu rất cao đối với mọi lĩnh vực, trong đó có văn hóa: Hoạt động văn hóa phải vận hành trên nền tảng pháp luật minh bạch, đồng bộ, hiện đại, phù hợp với thực tiễn và cam kết hội nhập.

Nhưng văn hóa lại là lĩnh vực biến đổi nhanh, đa dạng, nhạy cảm. Nhiều dạng thức mới xuất hiện: Nghệ thuật đương đại, nghệ thuật đường phố, không gian sáng tạo độc lập, sản phẩm số, nội dung do người dùng tạo ra (UGC), nội dung AI, kinh tế di sản, du lịch trải nghiệm… Trong khi đó, hệ thống pháp luật chưa theo kịp, còn khoảng trống trong khung pháp lý cho công nghiệp văn hóa, cơ chế hợp tác công - tư trong văn hóa, chính sách ưu đãi tài chính, thuế, đất đai cho dự án văn hóa, tiêu chí và định mức đánh giá hiệu quả đầu tư văn hóa, quy định về dữ liệu văn hóa, nội dung số, bản quyền trong môi trường số.

Thách thức của nhiệm kỳ Đại hội XIV là phải chuyển tinh thần đó thành những đạo luật, nghị định, thông tư cụ thể, tạo được hành lang pháp lý thông thoáng nhưng chặt chẽ, vừa khuyến khích sáng tạo, vừa bảo vệ các giá trị tốt đẹp của dân tộc.

5. Chuyển đổi số trong văn hóa còn chậm - trong khi công chúng đã “đi rất nhanh”

Với hơn 70-80% dân số sử dụng Internet, thời gian trung bình lên mạng xã hội nhiều giờ mỗi ngày, không gian số đã trở thành không gian văn hóa thứ hai của người Việt Nam. Người trẻ tiếp nhận phần lớn thông tin, tri thức, giải trí, giao tiếp trên môi trường số. Ở đó, sản phẩm văn hóa của thế giới tràn ngập, trong khi sản phẩm văn hóa Việt Nam vẫn còn khiêm tốn về số lượng lẫn chất lượng, đặc biệt là chất lượng số.

Nhiều bảo tàng, thư viện, nhà hát, di tích, không gian văn hóa… vẫn đang ở giai đoạn đầu của quá trình số hóa, mới chỉ dừng ở mức website, fanpage, vài tour ảo, chưa có hệ sinh thái văn hóa số quốc gia với cơ sở dữ liệu mở, nền tảng chung, chuẩn dữ liệu thống nhất để chia sẻ, kết nối, sản xuất sản phẩm mới.

Nếu trong giai đoạn chiến tranh, đó là “văn hóa kháng chiến - kiến quốc”, thì hôm nay, chúng ta có thể nói đến “văn hóa số - kiến tạo tương lai”. Thách thức là làm sao đưa toàn bộ tài nguyên văn hóa dân tộc bước vào không gian số một cách hiện đại, hấp dẫn, có khả năng lan tỏa mạnh mẽ, thay vì chỉ là sao chép hình thức từ thế giới.

6. Công nghiệp văn hóa chưa trở thành trụ cột kinh tế đúng với tiềm năng

UNESCO ước tính các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo đóng góp hơn 6% GDP toàn cầu, tạo hàng chục triệu việc làm. Ở Hàn Quốc, Indonesia, Anh, Pháp…, công nghiệp văn hóa không chỉ tạo ra giá trị kinh tế, mà còn định hình hình ảnh quốc gia, sức mạnh mềm và khả năng dẫn dắt xu hướng.

Việt Nam đã có Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, đặt mục tiêu đến năm 2030 đóng góp khoảng 7% GDP, xây dựng một số thành phố sáng tạo, hình thành các trung tâm công nghiệp văn hóa, tăng giá trị xuất khẩu sản phẩm văn hóa. Tuy nhiên, đến nay, đóng góp thực tế vẫn còn ở mức khiêm tốn, nhiều ngành mũi nhọn như điện ảnh, âm nhạc, trò chơi điện tử, thiết kế, thời trang, quảng cáo… chưa phát huy hết tiềm năng.

Nguyên nhân không chỉ do thiếu vốn, thiếu hạ tầng, mà sâu xa hơn là thiếu những “luật chơi” rõ ràng, thiếu những nhà đầu tư chiến lược, thiếu cơ chế bảo vệ nhà sáng tạo, khiến doanh nghiệp khó yên tâm đầu tư dài hạn.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Văn hóa là hồn cốt của dân tộc. Văn hóa còn thì dân tộc còn” - và nhấn mạnh văn hóa phải được gắn với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội. Điều đó đặt ra yêu cầu phải xem công nghiệp văn hóa không chỉ là câu chuyện của ngành văn hóa, mà là của cả nền kinh tế.

7. Bản quyền trong môi trường số - “vết thương hở” kéo dài của sáng tạo Việt Nam

Không bảo vệ được bản quyền thì không thể có công nghiệp văn hóa bền vững. Trong môi trường số, vi phạm bản quyền diễn ra với tốc độ và quy mô lớn hơn rất nhiều: Phim lậu, nhạc lậu, livestream trái phép, sử dụng trái phép hình ảnh, nội dung… Một bộ phim chiếu rạp có khi vừa công chiếu đã xuất hiện bản lậu trên mạng; một ca khúc, một chương trình nghệ thuật bị sao chép, sử dụng mà không trả tiền cho tác giả.

Điều này không chỉ gây thiệt hại kinh tế, mà còn làm nản lòng người sáng tạo, khiến nhà đầu tư cân nhắc khi bỏ vốn vào những dự án văn hóa - nghệ thuật quy mô lớn. Thách thức ở đây không chỉ là siết chặt chế tài, mà còn là xây dựng văn hóa tôn trọng bản quyền trong xã hội, để người dân hiểu rằng: Trả tiền cho sản phẩm văn hóa chính là trả tiền cho tri thức, cho tài năng và mồ hôi của người sáng tạo, từ đó tạo ra một thị trường văn hóa lành mạnh hơn.

8. Mức hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền còn chênh lệch đáng kể

Một xã hội văn minh là xã hội mà mọi người dân, ở mọi vùng miền, đều có cơ hội tiếp cận và tham gia đời sống văn hóa một cách bình đẳng. Nhưng hiện nay, vẫn còn khoảng cách khá lớn giữa thành thị-nông thôn, vùng thuận lợi-vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Nhiều nơi, nhà văn hóa xã hoạt động cầm chừng, thư viện cấp huyện nghèo nàn, rạp chiếu phim vắng bóng, sân chơi văn hóa dành cho thanh thiếu niên ít ỏi. Trong khi đó, ở các đô thị lớn, hoạt động sáng tạo, trình diễn, triển lãm, giao lưu văn hóa diễn ra sôi động.

Tại nhiều diễn đàn, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau”, trong đó có quyền tiếp cận văn hóa, giáo dục. Điều này đặt ra yêu cầu phải điều tiết nguồn lực, ưu tiên đầu tư, đa dạng hóa mô hình thiết chế, tăng cường đưa các chương trình văn hóa chất lượng về cơ sở, và nhất là trao quyền cho cộng đồng tự tổ chức, tự vận hành các hoạt động văn hóa.

9. Xây dựng thương hiệu văn hóa - hình ảnh quốc gia còn manh mún, thiếu hệ thống

Ở thời đại “sức mạnh mềm”, hình ảnh quốc gia là tài sản vô hình vô cùng quan trọng. Nhật Bản với “Cool Japan”, Hàn Quốc với “Hallyu - Làn sóng Hàn Quốc”, Thái Lan với “Amazing Thailand” đã chứng minh: Một chiến lược thương hiệu quốc gia bài bản có thể thúc đẩy du lịch, xuất khẩu hàng hóa, thu hút đầu tư và lan tỏa giá trị văn hóa.

Việt Nam có đầy đủ điều kiện: Lịch sử lâu đời, văn hóa đa sắc thái, di sản phong phú, ẩm thực hấp dẫn, con người thân thiện, giàu nghị lực. Nhưng cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có một chiến lược thương hiệu văn hóa - hình ảnh quốc gia thật sự đồng bộ, liên ngành, dài hạn. Các chiến dịch quảng bá còn rời rạc, theo từng ngành, từng địa phương, từng sự kiện.

Trong bối cảnh đó, những phát biểu như của Thủ tướng Phạm Minh Chính - “Văn hóa là nền tảng, thông tin là mạch dẫn, thể thao là sức mạnh, du lịch là nhịp cầu kết nối” - không chỉ là khẩu hiệu, mà có thể trở thành trục tư duy để xây dựng hình ảnh Việt Nam là một đất nước văn hóa - sáng tạo - năng động - đáng sống.

Thách thức là: Từ những trục tư duy đó, ai sẽ là đầu mối chiến lược, cơ chế phối hợp nào, nguồn lực nào, công cụ nào để cấu trúc lại toàn bộ hoạt động quảng bá hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế?

10. Áp lực hội nhập quốc tế sâu rộng - phép thử bản lĩnh văn hóa Việt Nam

Việt Nam là một trong những quốc gia có độ mở kinh tế cao, tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Hàng hóa, dịch vụ, dòng vốn, dòng người và đặc biệt là dòng chảy thông tin, sản phẩm văn hóa ra vào biên giới với tốc độ chưa từng có.

Đây là cơ hội để văn hóa Việt Nam bước ra thế giới, nhưng đồng thời cũng là thách thức: Sản phẩm văn hóa nước ngoài với lợi thế vốn, công nghệ, marketing, thương hiệu dễ dàng chiếm lĩnh thị trường trong nước, nhất là với giới trẻ.

Văn hóa là “mặt trận” quan trọng, gắn với sự tồn vong của dân tộc. Điều này càng đúng trong hội nhập: Nếu không giữ được ngôn ngữ, ký ức, bản sắc, hệ giá trị, chúng ta rất dễ bị hòa tan trong “biển lớn” toàn cầu hóa. Thách thức của nhiệm kỳ mới là phải biến hội nhập thành động lực chứ không phải sức ép, bằng cách làm mới truyền thống, nâng chất lượng sản phẩm văn hóa nội địa, tăng năng lực cạnh tranh của công nghiệp văn hóa, và có chiến lược xuất khẩu văn hóa chủ động.

11. Sức đề kháng văn hóa trước tác động tiêu cực của không gian mạng

Không gian mạng vừa là môi trường sáng tạo, vừa là “chiến trường” của thông tin, giá trị, quan điểm, lối sống. Tin giả, bạo lực ngôn từ, nội dung độc hại, cực đoan, giật gân… nếu không được kiểm soát tốt sẽ tác động tiêu cực đến tâm lý xã hội, đặc biệt là giới trẻ.

Tổng Bí thư Tô Lâm, trong các phát biểu gần đây, luôn nhấn mạnh yêu cầu giữ vững chủ động trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, coi văn hóa là sức mạnh tinh thần, là tấm lá chắn mềm trước những tác động phức tạp của môi trường quốc tế và không gian mạng.

Sức đề kháng văn hóa không thể chỉ xây dựng bằng các biện pháp hành chính, mà phải được bồi đắp từ bên trong mỗi con người, thông qua giáo dục, truyền thông lành mạnh, hoạt động văn hóa-nghệ thuật chất lượng, kỹ năng số và kỹ năng truyền thông cho công dân.

12. Văn hóa công vụ và văn hóa kinh doanh chưa trở thành chuẩn mực phổ quát

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện đại và phát triển kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết 68 đòi hỏi một nền văn hóa công vụ và văn hóa doanh nghiệp thực sự vững chắc. Nhưng trên thực tế, vẫn còn hiện tượng thiếu minh bạch, thiếu tinh thần phục vụ nhân dân, lợi ích nhóm, vi phạm đạo đức kinh doanh, gian lận, lừa dối người tiêu dùng… Những hiện tượng ấy, nếu không được chấn chỉnh, sẽ làm xói mòn niềm tin xã hội, làm suy yếu sức mạnh nội sinh của quốc gia. Văn hóa, trong trường hợp này, không còn là khái niệm trừu tượng, mà là thước đo hàng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi doanh nhân, mỗi tổ chức.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh “đức là gốc”, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; vì thế, văn hóa trong Đảng, văn hóa trong kinh doanh, văn hóa trong thực thi pháp luật…, phải trở thành chuẩn mực tự thân, không chỉ là khẩu hiệu.

13. Việc gắn văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội còn thiên về hình thức

Trong nhiều chiến lược, quy hoạch, văn hóa đã được đưa vào như một trụ cột. Nhưng khi triển khai, không ít dự án vẫn đặt lợi ích kinh tế ngắn hạn lên trên giá trị văn hóa lâu dài. Quy hoạch đô thị đôi khi chưa chú ý bảo tồn ký ức không gian; phát triển du lịch đôi lúc làm nghèo đi di sản, tạo nên những sản phẩm na ná nhau, thiếu bản sắc.

Các nghiên cứu quốc tế cho thấy, mỗi 1 đồng đầu tư vào di sản có thể tạo ra nhiều đồng giá trị gia tăng cho các ngành khác, từ du lịch, dịch vụ, đến sáng tạo và giáo dục. Nhưng để khai thác được điều này, phải có tư duy tích hợp văn hóa trong mọi chính sách phát triển, chứ không coi văn hóa là “phần thêm vào” sau cùng. Chúng ta phải đưa văn hóa vào trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội.

14. Hạn chế trong huy động nguồn lực xã hội cho văn hóa

Ngân sách nhà nước là nguồn lực quan trọng, nhưng không thể và không nên là nguồn duy nhất cho phát triển văn hóa. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nơi nào huy động tốt nguồn lực xã hội - doanh nghiệp - cộng đồng - quỹ tư nhân cho văn hóa, nơi đó đời sống văn hóa – sáng tạo phong phú, đa dạng hơn.

Ở ta, nhiều doanh nghiệp muốn đầu tư cho văn hóa, nhưng thiếu khung pháp lý rõ ràng, thiếu ưu đãi về thuế, đất đai, thủ tục phức tạp, rủi ro cao. Không ít mô hình hợp tác công - tư trong văn hóa còn lúng túng, chưa tạo được niềm tin cho nhà đầu tư.

Thủ tướng Phạm Minh Chính trong nhiều phát biểu đều nhấn mạnh cần phát huy sức mạnh của “ba trụ cột”: Nhà nước - thị trường - xã hội, trong đó văn hóa là lĩnh vực rất cần sự đồng hành của doanh nghiệp, trí thức, văn nghệ sĩ, cộng đồng. Thách thức là thiết kế chính sách đủ thông minh, đủ minh bạch để mọi chủ thể đều muốn và dám đầu tư cho văn hóa.

15. Xây dựng và lan tỏa hệ giá trị Việt Nam trong kỷ nguyên mới – thách thức lớn nhất nhưng cũng căn bản nhất

Cuối cùng, thách thức lớn nhất của văn hóa Việt Nam trong nhiệm kỳ Đại hội XIV chính là xây dựng và lan tỏa hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Yêu nước - nhân ái - đoàn kết - nghĩa tình - trung thực - trách nhiệm - kỷ cương - sáng tạo; khát vọng vươn lên; ý thức thượng tôn pháp luật; lối sống nhân văn, lành mạnh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong “Đời sống mới” và nhiều bài viết, bài nói chuyện, luôn nhấn mạnh vai trò của văn hóa, đạo đức, lối sống. Tư tưởng ấy được Đảng ta kế thừa và phát triển qua các thời kỳ, nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi thế hệ trẻ lớn lên trong một thế giới đa giá trị, đa nguồn ảnh hưởng.

Tổng Bí thư Tô Lâm, tại Lễ kỷ niệm 80 năm ngành Văn hóa, nhấn mạnh văn hóa xây nên dáng hình của dân tộc, định hình hệ giá trị Việt Nam trong thời kỳ mới, củng cố sức mạnh đoàn kết, bồi đắp lòng tin và khát vọng phát triển. Hệ giá trị đó không thể chỉ “nằm trên giấy”, mà phải thấm vào từng chính sách, từng ngôi trường, từng gia đình, từng sản phẩm văn hóa, từng hành vi công vụ, từng hoạt động kinh doanh. Đây vừa là thách thức, vừa là tiêu chí để đánh giá thành công của nhiệm kỳ Đại hội XIV trên mặt trận văn hóa.

*

*     *

Nhìn lại 15 thách thức trên, chúng ta thấy một bức tranh vừa nhiều cơ hội, vừa nhiều yêu cầu mới, vừa nhiều việc phải làm ngay. Nhưng lịch sử dân tộc cho thấy, mỗi khi đối mặt với những thời khắc khó khăn, văn hóa và con người Việt Nam luôn là nguồn sức mạnh quyết định.

Từ tư tưởng Hồ Chí Minh “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, đến khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “Văn hóa là hồn cốt của dân tộc. Văn hóa còn thì dân tộc còn”, rồi những chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm về việc để truyền thống 80 năm ngành Văn hóa thật sự tỏa sáng trong giai đoạn mới, và thông điệp của Thủ tướng Phạm Minh Chính “Văn hóa là nền tảng - Thông tin là mạch dẫn - Thể thao là sức mạnh - Du lịch là nhịp cầu kết nối - Vững bước vào kỷ nguyên mới” - tất cả đang tạo nên một trường lực tư tưởng mạnh mẽ, đặt văn hóa vào trung tâm của tầm nhìn phát triển đất nước.

Nhiệm kỳ Đại hội XIV phải là giai đoạn mà thể chế văn hóa được hoàn thiện thực chất, công nghiệp văn hóa trở thành một trụ cột kinh tế - văn hóa, chuyển đổi số văn hóa diễn ra sâu rộng, có hệ thống, thương hiệu văn hóa - hình ảnh quốc gia được định hình rõ nét, nguồn nhân lực văn hóa - sáng tạo được đầu tư chiến lược, và trên hết, hệ giá trị Việt Nam được nuôi dưỡng, lan tỏa trong đời sống xã hội.

Bởi suy cho cùng, văn hóa, cũng giống như giáo dục, chính là “nguyên khí của quốc gia”: Nếu nguyên khí vượng thì đất nước hưng thịnh; nếu nguyên khí suy thì phát triển không thể bền vững. Trước thềm Đại hội XIV, nhìn thẳng vào 15 thách thức ấy cũng là cách chúng ta chuẩn bị hành trang tinh thần cho một chặng đường mới - tự tin hơn, bản lĩnh hơn, nhân văn hơn, sáng tạo hơn để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, soi đường cho dân tộc Việt Nam vươn mình trong kỷ nguyên mới.