Ngày 22-12-1953, cùng với việc trao cờ Quyết chiến Quyết thắng cho toàn quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao cờ Quyết tâm làm tròn nhiệm vụ cho các lực lượng  hậu cần với lời kêu gọi thi đua tới toàn thể cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng: “Chịu đựng gian khổ. Vượt mọi khó khăn. Giúp sức bộ đội giành nhiều thắng lợi. Hoàn thành nhiệm vụ vượt mức”.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, toàn ngành Hậu cần hướng về Điện Biên phủ với quyết tâm cao nhất. Tại Sở chỉ huy Tiền phương, các đồng chí Đặng Kim Giang, Nguyễn Thanh  Bình, Nguyễn Ngọc Minh, Đinh Đức Thiện, Vũ Xuân Chiêm, Vũ Văn Cẩn, Nguyễn Văn Nam... nhanh chóng tổ chức giao nhiệm vụ cụ thể cho từng lực lượng. Theo phương án “Đánh nhanh, giải quyết nhanh” của cấp trên, đến ngày 20/01/1954, công tác chuẩn bị hậu cần phải hoàn tất, với khối lượng bảo đảm 7.730 tấn gạo, 140 tấn muối, 465 tấn thực phẩm khô, 434 tấn đạn; dự kiến số lượng thương bệnh binh cần cứu chữa là 5.000 người...Trong các nhiệm vụ được giao, Bộ Chỉ huy Tiền phương xác định 2 nhiệm vụ khó khăn nhất của hậu cần là mở đường vào Điện Biên phủ và đưa gạo, đạn đến khu vực chiến đấu.

Đối với việc mở đường, phương án nâng cấp đường 13, đường 41 được tập trung giải quyết, xử lý gấp, nhất là các đoạn đường hẹp; gia cố toàn bộ các cây cầu, tập trung vào đoạn qua đèo Lũng Lô, Pha Đin, bảo đảm đủ phương tiện vượt sông cho bến phà Tạ Khoa. Nhận thấy mặt trận cầu đường hết sức khó khăn, Bác Hồ gửi thư động viên dân công, thanh niên xung phong, bộ đội công binh, cán bộ, nhân viên giao thông công chính: “Công việc cầu đường là rất quan trọng. Nó cũng là một mặt trận mà các cô, các chú là chiến sĩ. Bác cùng Đảng, Chính phủ luôn luôn theo dõi công tác của các cô, các chú...”. Ngoài lực lượng công binh, hàng nghìn thanh niên xung kích, dân công, cấp trên còn điều thêm 2 trung đoàn bộ binh góp sức nâng cấp đoạn đường dài 90km từ Tuần Giáo vào Điện Biên phủ. Đây là con đường chính dẫn vào địa bàn tác chiến. Trên tuyến này, có khoảng 100 cầu, cống hư hỏng cần được gia cố. Từ Tuần Giáo trở vào, nhu cầu gạo cho mặt trận lên tới 40 tấn/ngày. Không có đường cho ô tô hoạt động, hậu cần sẽ không thể đảm trách được nhiệm vụ bảo đảm nặng nề đó.

Trước những khó khăn trong công tác vận chuyển, bộ đội vận tải đã áp dụng hiệu quả 2 biện pháp. Đó là thành lập Ban Chỉ huy giao thông, thành phần gồm: cán bộ tham mưu, công binh, pháo binh, vận tải để chỉ huy và điều tiết giao thông trên từng chặng đường, ưu tiên cho nhiệm vụ tác chiến. Đồng thời, trên tuyến vận tải chiến lược, thành lập 18 trạm điều chỉnh giao thông, có mạng thông tin hữu tuyến điện để chỉ huy xe ra, vào, tránh ùn tắc.

Trước đó, từ đầu tháng 12/1953, các đại đoàn chủ lực của ta đã bắt đầu hành quân bộ lên Điện Biên phủ. Thời tiết đang vào mùa Đông nên rét rất đậm, càng gần trận địa, khí hậu càng khô hanh, lắm muỗi độc. Theo chỉ thị của trên, hậu cần các cấp phải huy động mọi nguồn lực, bảo đảm đầy đủ quân trang cho bộ đội trước khi lên đường, nhất là quân trang chống rét. Thực hiện chỉ thị, ngành Quân nhu đã cấp phát đầy đủ cho các đơn vị, với 27.000 đôi giày, bổ sung 3.525 bộ quân phục, 600 chiếc chăn và nhiều áo trấn thủ dài tay cùng các nhu yếu phẩm khác như xà phòng, thuốc lào, kim chỉ... Các kho hậu phương đều chuẩn bị đủ các loại vật chất để phục vụ khi chiến dịch phát triển.

Để bảo đảm gạo cho mặt trận, đặc biệt là khi chuyển phương châm tác chiến, chiến dịch kéo dài, hậu cần các cấp đã phải huy động gạo từ nhiều nguồn gồm tại chỗ, trên địa bàn Tây Bắc, Liên khu 3, 4 chuyển lên, Bạn viện trợ...Tất cả được tính toán, dự kiến tỉ mỉ, kỹ lưỡng, nhất là đối với đường vận chuyển, phương thức vận chuyển. Từ trước Tết Nguyên đán, các đoàn nghiên cứu, khảo sát của các tỉnh đã về hậu cứ, lên phương án huy động cụ thể theo 2 mức trung bình và tối đa. Trong việc huy động tại chỗ, Tổng cục Cung cấp coi việc huy động ở Sơn La, Lai Châu là chủ yếu, sau đó, cố gắng huy động các địa phương gần trận địa. Hậu cần chiến dịch kết hợp chặt chẽ với chính quyền các địa phương vùng Tây Bắc tổ chức huy động, xay, giã và vận chuyển gạo đến vị trí quy định. Một số thợ đóng cối cùng dân công tỉnh Vĩnh Phúc được phân công phụ giúp đồng bào địa phương xay, giã gạo. Ngành Quân nhu cũng đã lo đủ thuốc lào cùng một số nhu yếu phẩm khác để đổi gạo theo yêu cầu của nhân dân. Đồng chí Trần Ngọc San, cán bộ của Tổng cục đã được cấp trên cử sang Trung Quốc, liên hệ với huyện Kim Bình nghiên cứu khả năng chi viện và cùng công binh tìm cách khai thác tuyến đường sông từ Ba Nậm Cúm về thị xã Lai Châu. Sau đó, tổ chức vận chuyển  bộ từ Lai Châu về phía bắc Điện Biên phủ. Nhiệm vụ vận chuyển gạo trên sông Nậm Na cực kỳ khó khăn do khúc sông dài (95km) có đến hơn 100 thác ghềnh lớn nhỏ. Tuy nhiên, bằng sự sáng tạo, quyết tâm, Đại đội dân công huyện Thanh Thủy (tỉnh Phú Thọ) gồm hầu hết là nữ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đưa 1.700 tấn gạo viện trợ lên đến mặt trận, bảo đảm đầy đủ, an toàn.

Trong những ngày giáp Tết và đầu Xuân Giáp Ngọ, toàn ngành Quân y bắt đầu tổ chức ra quân. Sinh viên các khóa y dược đều được động viên lên đường. Cục Quân y tập trung lực lượng, thuốc men, dụng cụ y tế, nâng cấp 7 đội điều trị của Cục và 4 đội điều trị đại đoàn, trong đó có 5 đội điều trị được nâng cấp thành bệnh viện dã chiến phục vụ ngay tại mặt trận và 3 đội điều trị triển khai ở tuyến hậu cần hỏa tuyến. Sát cánh cùng cán bộ, chiến sĩ quân y là các thầy giáo, sinh viên Trường Đại học Y dược với nhiều thầy thuốc nổi tiếng như: Bộ trưởng Bộ Y tế Vũ Đình Tụng; Thứ trưởng Bộ Y tế, Giáo sư Tôn Thất Tùng…Ngay tại mặt trận, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Chỉ huy trưởng Chiến dịch đã có thư động viên ngành Y: “Từ nay đến lúc tiêu diệt hoàn toàn quân địch ở Điện Biên phủ, chúng ta còn phải trải qua nhiều khó khăn gian khổ. Các đồng chí cần tiếp tục nâng cao tinh thần dũng cảm, khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành nhiệm vụ phục vụ cứu chữa anh em thương binh chu đáo”. Việc chuyển thương bằng đường bộ và đường cơ giới đều được tổ chức, bố trí rất chu đáo. Các khẩu hiệu, phong trào liên tục được phát động, như: “Mỗi xe ô tô là một bệnh xá lưu động”; “Mỗi tổ cáng là một gia đình thương yêu thương binh”… Trước ngày lên đường ra hỏa tuyến, các đội điều trị đều rút kinh nghiệm, bàn biện pháp cải tiến công tác điều trị, hộ lý, chăm sóc thương binh, bệnh binh.

Đầu Xuân Giáp Ngọ, thời tiết rất khắc nghiệt, sức khỏe bộ đội ở hỏa tuyến giảm sút, quân số ốm đau nhiều do phải dốc sức cho công tác chuẩn bị tác chiến. Vì vậy, Mệnh lệnh số 1, Bộ Chỉ huy Chiến dịch yêu cầu toàn mặt trận: “Tăng cường phòng bệnh và cải thiện sinh hoạt để giữ sức khỏe cho bộ đội”. Chấp hành mệnh lệnh của trên, hậu cần các đơn vị đều có kế hoạch “Cải thiện sinh hoạt bộ đội”; “Bình thường hóa sinh hoạt bộ đội”.  Nhiều đơn vị tổ chức vào rừng kiếm được hàng chục tấn hoa chuối, củ mài, tổ chức đánh cá, hái rau rừng, ngâm giá đỗ…để cải thiện bữa ăn cho bộ đội. Đại đoàn 312 tổ chức hơn 100 xe đạp thồ về Phú Thọ mua nhu yếu phẩm. Đại đoàn 316 mua bò từ Thanh Hóa đưa lên thịt cho bộ đội ăn tăng cường. Đại đoàn 351 ướp thịt ở hậu phương chuyển được hơn 100 tấn lên mặt trận. Ngoài ra, hậu cần các trung đoàn còn cử tiếp phẩm vào các bản đồng bào Thái, Mông ở vùng cao mua rau xanh, lợn… về chế biến, cải thiện bữa ăn cho bộ đội. Các đơn vị còn cải tiến bếp Hoàng Cầm, bảo đảm cho bộ đội ăn uống nóng, tổ chức cuộc sống trong hầm hào với nhiều biện pháp để vô hiệu hóa phi pháo của địch. Với nhiều biện pháp sáng tạo, linh hoạt, mưu trí, đời sống sinh hoạt của bộ đội dần trở lại bình thường, sức khỏe được giữ vững suốt mùa Chiến dịch.

Mùa Xuân Giáp Ngọ, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước sang năm thứ chín. Sát cánh cùng toàn dân, toàn quân, các lực lượng hậu cần đã đạp bằng mọi khó khăn, gian khổ, hi sinh, cùng cả nước đưa chiến dịch Điện Biên phủ đến toàn thắng, trở thành Chiến thắng lịch sử “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp xâm lược.

Đại tá TRẦN TIỆU (Nguyên cán bộ Viện Lịch sử Quân sự)