Kỳ 3: Những tuyến ống xăng dầu đầu tiên.
Đầu năm 1967, trên tuyến vận tải chiến lược 559 đã hình thành đường cơ giới từ Đường 12 vượt Đường 9 đến Tha Mé, Bạc. Do vậy, lượng xăng dầu đòi hỏi ngày càng nhiều (dự kiến năm 1968 có thể cần tới 12.000 tấn/tháng). Trong khi đó, địch ngăn chặn rất quyết liệt, khiến việc vận chuyển khối lượng lớn xăng dầu bằng xe xi-tec và phuy 200 lít vượt đường dài qua nhiều trọng điểm đánh phá của địch rất khó khăn... Trước tình hình này, Tổng cục Hậu cần (TCHC) đã đề nghị trên xin Nhà nước cho nhập đường ống của Liên Xô. Tháng 9/1967, bộ đường ống dã chiến thứ nhất do Liên Xô viện trợ được chuyển sang. Tháng 12/1967, hai chuyên gia Liên Xô sang trực tiếp hướng dẫn ta sử dụng. Tiếp đó, bộ đường ống thứ 2 cũng được tiếp nhận. Như vậy, Liên Xô đã viện trợ cho ta 200km đường ống dã chiến, cùng 20 máy bơm PNU 35/70.
Chủ nhiệm TCHC chỉ đạo: Đường ống dã chiến phải là phương thức vận chuyển bảo đảm xăng dầu cho tuyến vận tải chiến lược 559, tiến tới bảo đảm cho các quân binh chủng hành quân vào chiến trường; ưu tiên những nơi trọng yếu, địch đánh phá ác liệt. Tổng cục dự kiến sẽ lắp đặt tuyến ống trên chặng từ R (xóm Cục) đến S (Bùm Lùm). Trước mắt, xây dựng tuyến đường ống tại khu vực tam giác lửa Vinh - Nam Đàn- Linh Cảm.
Thực hiện quyết định của Quân uỷ Trung ương, Chủ nhiệm TCHC Đinh Đức Thiện cử Cục trưởng Cục Xăng dầu Phan Tử Quang trực tiếp báo cáo tình hình với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Sau khi nghe báo cáo, Đại tướng đồng ý phương án triển khai làm đường ống xăng dầu, trước mắt là làm đường ống vượt các trọng điểm địch hay đánh phá, sau đó làm đường ống vượt Trường Sơn, vào càng sâu càng tốt. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Đại tướng, ngày 12/4/1968, Phó phòng Xăng dầu Quân đội Trần Xanh cùng 12 cán bộ, chiến sĩ tiến hành khảo sát tuyến từ Khe Ve theo Đường 12 qua đèo Mụ Giạ sang Bùm Lùm. Một đoàn khác do đồng chí Hoàng Ngọc Minh dẫn đầu khảo sát từ Thiệu Dương - Thanh Hoá vào Nam Đàn, Linh Cảm qua Hương Khê - Hà Tĩnh tới giáp với tuyến của đoàn đồng chí Trần Xanh. Các đoàn vừa có nhiệm vụ nghiên cứu thiết kế, vừa xác định vị trí sở chỉ huy công trình, vị trí tập kết thi công tuyến ống.
Cùng lúc, TCHC tổ chức các đơn vị vận chuyển trang thiết bị phục vụ công trình đường ống. Ngày 20/4/1968, TCHC thành lập Công trường 18 do đồng chí Mai Trọng Phước, Chủ nhiệm khoa Xăng- Xe vận tải, Trường Sĩ quan Hậu cần phụ trách, chuẩn bị làm đường ống trên địa bàn Quân khu 4. Trước mắt, Công trường 18 triển khai xây dựng tuyến X42 vượt qua vùng tam giác lửa. Các K (tương đương đại đội) được phân công như sau: K1 thi công tuyến Truông Băng (Nam Thanh) đến Nam Lâm (Nam Đàn); K2 thi công tuyến Nam Đông đến Đức Trường (Đức Thọ); K3 thi công tuyến Đức Phong đến Nga Lộc (Can Lộc); K4 thi công vượt sông Lam (tại Vạn Rú) và sông La (tại Đức Trường). Đêm 12/6/1968, toàn bộ lực lượng của Công trường 18 rời Hà Nội hành quân vào Quân khu 4. Vượt qua các trọng điểm đánh phá của địch, cuộc hành quân cấp tốc của hơn 400 người (trong đó có 240 cán bộ, công nhân của Bộ Công nghiệp nhẹ, Bộ Thủy lợi, Công ty Gang thép Thái Nguyên, công nhân xây dựng khu Nam Hà Nội) đã vào đến tuyến lửa an toàn. 18 giờ ngày 22/6/1968, toàn lực lượng cơ động ra hiện trường. Tại bến đò Vạn Rú bên dòng sông Lam, cách Rú Trét (nơi địch thường xuyên đánh phá) 500m, các lực lượng đã sẵn sàng. Đúng 21 giờ, hiệu lệnh thi công tuyến ống vượt sông bắt đầu. Bên bờ Bắc, các ống được lắp ráp, đầu ống lắp cút chữ T rồi buộc vào đó sợi dây cáp để kéo sang bờ Nam. Hàng trăm người hợp lực cùng sức kéo của chiếc xe GAT 69 kéo ống từ từ sang sông. Nhưng xảy ra trục trặc: đầu ống húc phải đá ngầm dưới lòng sông. Anh em thợ lặn được lệnh lặn xuống nâng đầu ống, đồng thời chỉ huy công trường đưa lực lượng xuống 2 thuyền kèm 2 bên ống nâng dần đầu ống và dây cáp lên, mặc cho máy bay địch bắn phá dữ dội... Qua một đêm vật lộn, 5 giờ sáng 23/6, 500m đường ống đã vượt sông Lam an toàn.
Tại K1, K2, K3, khí thế ra quân cũng rất hào hứng. Bộ đội và dân công thi đua đào, rải, lắp ráp, chôn ống và ngụy trang. Để giữ bí mật tuyệt đối, tránh địch trinh sát đánh phá, ban ngày ta đưa trâu ra cày vạch đường chuẩn, đêm xuống lực lượng thi công lần theo đường cày đào tuyến, rải ống và lắp ráp. Nếu gặp ruộng lúa nước thì ban ngày cắm vè làm cọc tiêu, tối đến nhổ lúa, vét bùn, chôn ống xong rồi cấy lúa lên ngụy trang... Sau 45 ngày đêm vất vả, lực lượng thi công của Công trường 18 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ xây dựng công trình X42, bao gồm hệ thống tuyến, trạm bơm, kho chứa, đường dây thông tin với tổng chiều dài 42 km vượt qua sông Lam và sông La, qua các trọng điểm đánh phá của địch. Ngày 10/8/1968, dòng xăng theo đường ống chui ngầm dưới lòng đất, xuyên qua lòng sông, men theo bờ ruộng, chân đồi từ Nam Thanh chảy vào tới Nga Lộc. Mọi người đều tin tưởng một ngày không xa, dòng xăng đường ống sẽ vươn đi khắp các chiến trường, không còn cảnh bộ đội phải đổ máu trên đường gùi xăng. Để sử dụng tuyến ống X42 và thi công tiếp tuyến ống vào phía Nam, ngày 17/8/1968, TCHC quyết định thành lập 4 tiểu đoàn đường ống: 668, 768, 868 và 968.
Ngày 01/11/1968, chớp thời cơ Mỹ tuyên bố chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc, Cục Xăng dầu điều động toàn bộ lực lượng Công trường 40 về Vinh thi công tuyến Vinh - Nam Hồng (T2 của tuyến X42), đưa xăng vào Nga Lộc, Đức Lạng, sau đó tiếp tục thi công tuyến Đức Lạng qua Tân Ấp - RH11 đi La Hơn (ngã 3 Đường 12 và Đường 15). Cùng lúc, Công trường 18 thi công tuyến RH11 qua đèo Mụ Giạ, 050 vào Ka Vat để cung cấp xăng cho Đoàn 559 ở Tây Trường Sơn. Thi công tuyến này rất khó khăn, vì tuyến ống phải qua địa hình rừng núi phức tạp và nhiều sông, suối.
Sang tháng 12/1968, phát hiện ra tuyến ống xăng dầu của ta đã vượt qua biên giới Việt- Lào, địch tổ chức lực lượng thám báo tăng cường do thám, kết hợp sử dụng không quân đánh phá ngăn chặn. Ban chỉ huy quyết định chuyển hướng thi công, mở đường vòng tránh qua trọng điểm, đồng thời sử dụng các biện pháp nghi binh. Ngày nối ngày, cán bộ, chiến sĩ các công trường lao động quên mình. Các đoàn vận tải bí mật đưa xe ô tô vượt qua bom đạn địch vận chuyển ống và thiết bị đến nơi tập kết phục vụ thi công tuyến ống. Đưa ống lên đỉnh dốc đã khó, đưa những chiếc máy bơm chuyên dụng nặng hàng tấn bằng sức người vào đúng vị trí còn khó khăn hơn nhiều. Tuy nhiên, với sự nỗ lực vượt bậc, đúng giao thừa Xuân Kỷ Dậu 1969, Công trường 18 đã đưa dòng xăng vượt Tây Trường Sơn vào tới Na Tông để cấp cho xe Đoàn 559.
Tiếp đó, cán bộ, chiến sĩ Công trường 18 thi công kéo dài tuyến ống vào Ka-vát. Bằng nhiều biện pháp thủ công (kéo máy, vác ống, khiêng bể vượt núi đá tai mèo), ngày 03/3/1969, tuyến ống dài 350 km từ Vinh vào Ka-vát đã hoàn thành. Bốn tiểu đoàn đường ống lần đầu tiên vận hành thông suốt tuyến ống, cung cấp xăng dầu cho tuyến 559. Chỉ trong quí 1/1969, tuyến ống đã cung cấp cho Đoàn 559 gần 6.212 tấn xăng dầu...
Để bảo đảm xăng dầu cho Đoàn 559 ở phía Tây Trường Sơn, ngày 01/4/1969, TCHC quyết định thành lập Binh trạm 169 trực thuộc Cục Xăng dầu để quản lý, vận hành tuyến ống Vinh- Ka-vát. Binh trạm được biên chế 4 tiểu đoàn đường ống với 2.126 cán bộ, chiến sĩ... Qua một năm hoạt động, Binh trạm đã tổ chức tiếp nhận 16.200 tấn xăng dầu, cấp cho Đoàn 559 được 8.364 tấn (đạt 105,87% kế hoạch). Những tuyến ống đầu tiên của bộ đội xăng dầu đã phát huy tác dụng to lớn, cung cấp xăng dầu cho Đoàn 559 vận chuyển vật chất chi viện kịp thời cho chiến trường miền Nam… (Xem tiếp kỳ sau)
Đại tá PGS, TS DƯƠNG HỒNG ANH