Cách đây 60 năm, ngày 7-5-1954, chiến dịch Điện Biên Phủ (ĐBP) toàn thắng, kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống thực dân Pháp của quân và dân ta.

Để có thắng lợi vĩ đại đó, ngành Hậu cần đã có đóng góp rất quan trọng. Trong điều kiện vô vàn khó khăn do địa bàn Chiến dịch xa hậu phương, nhu cầu bảo đảm rất lớn, trong khi đội ngũ cán bộ, nhân viên hậu cần còn non trẻ, một số chưa có  kinh nghiệm tổ chức, bảo đảm hậu cần cấp chiến dịch…; song, nhờ quán triệt sâu sắc nhiệm vụ quân sự; yêu cầu, nhiệm vụ bảo đảm hậu cần; nhất là được tổ chức huấn luyện chặt chẽ, phương pháp huấn luyện phù hợp, toàn Ngành đã hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm hậu cần cho Chiến dịch giành thắng lợi hoàn toàn.

Để chuẩn bị cho chiến cuộc Đông- Xuân 1953-1954, ngành Hậu cần tuy bước đầu đã xây dựng được đội ngũ cán bộ, nhân viên ở các cấp nhưng so với yêu cầu, nhiệm vụ thì còn thiếu rất nhiều. Vì vậy, cùng với việc khẩn trương kiện toàn tổ chức, chỉnh huấn, chỉnh quân, Tổng cục Cung cấp (TCCC) mở các lớp huấn luyện nghiệp vụ để đào tạo cán bộ. Sau lớp luân huấn đầu tiên do Cục trưởng Cục Quân nhu Nguyễn Thanh Bình trực tiếp phụ trách, đào tạo được 88 cán bộ cung cấp từ trung đoàn trở lên, năm 1952, TCCC mở lớp thứ hai cho 208 học viên từ Liên khu 5 trở ra. Học viên được quán triệt quan điểm phục vụ, một số kiến thức cơ bản về tổ chức công tác cung cấp, các chức trách, qui định về nghiệp vụ. Thời gian này, Cục Quân nhu còn mở các lớp cấp dưỡng, tài lương và quân trang.

Tháng 1-1953, trong đề án công tác năm, TCCC đã đề xuất phương châm và phân cấp nhiệm vụ huấn luyện. Theo đó, TCCC phụ trách công tác huấn luyện cán bộ cung cấp từ tiểu đoàn trở lên trong toàn quân, không kể cán bộ quân y. Cấp đại đoàn huấn luyện quản lý viên đại đội và cán bộ cung cấp cấp trung, sư đoàn. Đề án còn qui định phương pháp học tập tại chức cho cán bộ, nhân viên trong toàn Ngành: mỗi ngày học 2 giờ; tỷ lệ phân phối nội dung học là 1-3-6 (10% quân sự, 30% chính trị, 60% chuyên môn nghiệp vụ). Đề án cũng nêu vấn đề thành lập trường hậu cần, gồm 2 loại: một trường đặt dưới sự lãnh đạo của TCCC hoặc Tổng Quân uỷ, phụ trách đào tạo, giáo dục cán bộ hậu cần; một trường do Cục Quân y phụ trách, chuyên đào tạo cán bộ quân y. Từ tháng 6 đến tháng 8-1953, TCCC còn mở nhiều lớp học chính trị tập trung cho cán bộ trung cấp, cao cấp theo yêu cầu, nội dung và thời gian của đợt “chỉnh quân chính trị” được tổ chức trong toàn quân.

Để bảo đảm cho các chiến dịch, từ tháng 3-1953, Cục Vận tải được điều thêm 81 ôtô mới, lập thêm 3 đại đội ôtô. Nhiều cán bộ kỹ thuật được Cục tăng cường cho các đại đội xe và xưởng sửa chữa. Một số tổ sửa chữa xung kích cũng được thành lập để khắc phục những xe hư hỏng trên đường vận tải và bồi dưỡng tay nghề cho thợ và lái xe ở đơn vị. Các qui định về bảo quản, sử dụng xe cũng được xây dựng thành chế độ thống nhất. Thời gian này, Cục Vận tải mở nhiều lớp tập huấn ngắn ngày cho 307 cán bộ về tổ chức chỉ huy vận tải trong chiến đấu; cách quản lý hàng hoá, xăng dầu trong vận chuyển; phân cấp sửa chữa, bảo dưỡng xe ở đơn vị và ở xưởng…

Tháng 7-1953, TCCC quyết định mở Trường Luân huấn hậu cần, trên cơ sở các lớp huấn luyện đào tạo cán bộ hậu cần ngắn ngày trước đây; đồng chí Trần Hữu Dực, Phó Chủ nhiệm TCCC được giao kiêm chức Giám đốc đầu tiên. Ngày 14-9-1953, Trường khai giảng khoá 1, gồm 62 cán bộ hậu cần cấp khu, đại đoàn và trung đoàn. Chương trình, nội dung khoá học bao gồm các vấn đề quân sự chung, công tác hậu cần thường xuyên và hậu cần bảo đảm cho chiến đấu... Đây là lớp học có hệ thống đầu tiên về bảo đảm hậu cần cho chiến đấu của Quân đội ta, trực tiếp chuẩn bị cán bộ cho kế hoạch tác chiến Đông - Xuân và chiến dịch ĐBP.

Ngày 20-8-1953, Chủ nhiệm TCCC ra chỉ thị về chỉnh huấn nghiệp vụ. Chỉ thị nêu rõ: “Trên cơ sở thắng lợi của chỉnh quân chính trị, tiến lên một bước nâng cao trình độ nghiệp vụ kỹ thuật của cán bộ, chiến sĩ, xây dựng nền nếp cho ngành Hậu cần, làm cho cán bộ, chiến sĩ hậu cần hiểu được nhiệm vụ, chức trách của mình, phương pháp tiến hành công tác. Đồng thời, học tập một số vấn đề cấp thiết về kỹ thuật, đặc biệt là về nhiệm vụ công tác, lề lối làm việc thời chiến; nâng cao năng lực, hiệu suất công tác của cán bộ hậu cần, hoàn thành nhiệm vụ phục vụ Chiến dịch”. Ngày 9-9-1953, Hội nghị cung cấp toàn quân lần thứ hai khai mạc, tham dự có 125 cán bộ, trong đó 95 cán bộ hậu cần các liên khu, đại đoàn và trung đoàn trực thuộc Bộ. Hội nghị lần này nhằm thống nhất tổ chức, biên chế hậu cần trong toàn quân, phổ biến một số chế độ tiêu chuẩn cung cấp mới bổ sung; đồng thời thu thập ý kiến xây dựng các chế độ, tiêu chuẩn cung cấp mới. Viết thư cho Hội nghị, Hồ Chủ tịch căn dặn cán bộ hậu cần “Phải toàn tâm, toàn lực phục vụ bộ đội, chớ tham ô, lãng phí một đồng tiền, một bát gạo, một ngày công của nhân dân đóng góp cho bộ đội…”. Ngày 25-9-1953, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm và nói chuyện với Hội nghị. Về nhiệm vụ của ngành Hậu cần, Đại tướng chỉ rõ: “Hướng của ta là tiến lên đánh lớn…Phương  châm tác chiến của ta là cần phải cơ động, linh hoạt, khi đánh gần, khi đánh xa, khi đánh to, khi đánh nhỏ, khi đánh vận động, khi đánh công kiên. Công tác hậu cần phải hướng vào đó để bảo đảm cho tác chiến thắng lợi…”.

Bước vào chiến dịch ĐBP, trước tình hình ngày càng ác liệt, khẩn trương, Tổng cục thường xuyên cử cán bộ bám sát các đại đoàn, chỉ đạo huấn luyện bổ sung có trọng điểm. Trong từng giai đoạn Chiến dịch, Tổng cục đều triệu tập hội nghị hoặc tăng cường cán bộ xuống đơn vị, phổ biến chủ trương, phương hướng công tác và hướng dẫn các đơn vị triển khai thực hiện. Sau một đợt chiến đấu, Tổng cục cử cán bộ xuống rút kinh nghiệm về từng loại vấn đề và thông tri những kinh nghiệm bảo đảm cho các đơn vị khác. Sau 2 đợt chiến đấu, Tổng cục tóm tắt những kinh nghiệm chủ yếu, in thành sách khổ nhỏ, phổ biến cho đơn vị. Đặc biệt, tờ báo Hậu cần lần đầu tiên xuất bản tại mặt trận đã ra được 23 số, có tác dụng trao đổi, phổ biến kinh nghiệm bảo đảm; bồi dưỡng, nâng cao quan điểm phục vụ và trình độ nghiệp vụ của cán bộ, nhân viên cung cấp.

Trong suốt Chiến dịch, việc giáo dục, huấn luyện chuyên môn không chỉ hạn chế trong phạm vi cán bộ mà mở rộng đến các thành phần có liên quan, như lái xe, bốc vác, dân công và bộ đội. Phương pháp giáo dục chủ yếu lấy những việc cụ thể đã xảy ra để phân tích, rút ra nguyên nhân, đề ra biện pháp khắc phục. Việc bồi dưỡng được tiến hành có kế hoạch, thường xuyên, liên tục và tranh thủ mọi hoàn cảnh; chủ yếu lấy cấp trên hướng dẫn cấp dưới; người cũ hướng dẫn người mới, tạo thành phong trào quần chúng rộng khắp.

Điểm nổi bật trong công tác huấn luyện hậu cần (HLHC) trong chiến dịch ĐBP là có sự kết hợp nhiều hình thức huấn luyện nhằm trang bị kịp thời những kiến thức hậu cần cần thiết trong chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ hậu cần và bộ đội. Ở các đại đội ôtô 202, 203, 204, 205, cán bộ đại đội tranh thủ thời gian 15-20 phút mỗi buổi sinh hoạt để hướng dẫn nghiệp vụ lái xe, kỹ thuật sửa chữa; hoặc trao đổi kinh nghiệm lái xe ngay tại các bữa ăn. Cùng với bồi dưỡng lái xe cũ, các đơn vị chú trọng đào tạo lái phụ thành lái chính ngay trong quá trình làm nhiệm vụ vận chuyển phục vụ Chiến dịch (toàn Chiến dịch đã có 221 lái phụ được đào tạo thành lái chính, kịp thời giải quyết khó khăn do thiếu lái xe). Nhiều đơn vị đã khái quát nội dung học tập thành những qui định dễ hiểu để bộ đội thực hiện. Ví dụ, trong hành quân, Đại đoàn 308 phát động phong trào “3 tốt” (đi tốt, ăn tốt, ngủ tốt); Đại đoàn 304 phát động phong trào “4 tốt”. Những kinh nghiệm trên được kịp thời phổ biến cho các đơn vị áp dụng, giúp giảm đáng kể tỷ lệ ốm, đau chân so với các chiến dịch trước đó, bảo đảm được quân số chiến đấu.

Chiến dịch càng qui mô, tác chiến hiệp đồng binh chủng ngày càng nhiều, công tác hậu cần đòi hỏi trình độ tổ chức, bảo đảm ngày càng cao. Vì vậy, bên cạnh các hình thức huấn luyện đã được áp dụng, việc nêu gương, rút kinh nghiệm, phổ biến kiến thức đã phát huy hiệu quả tích cực. Tại Đại đội 84 (Trung đoàn 98), khi hành quân và sau kéo pháo, y tá đơn vị đã vận động ban chỉ huy đại đội gương mẫu phòng bệnh, sau đó cùng ban chỉ huy vận động đột phá ở 1 tiểu đội, dùng tiểu đội đó vận động toàn đại đội làm theo. Ở Đại đội 606 (Trung đoàn 209), tất cả bộ đội đều thực hiện nằm màn trong hầm. Điều này có được là do cán bộ đại đội và quân y luôn gương mẫu làm trước; đồng thời bám sát chiến sĩ, hướng dẫn họ cụ thể từ kiểu hầm đến cách đào hầm…

Ngoài huấn luyện tại trường, các hội nghị kiểm điểm và tổng kết công tác có tác dụng như những lớp huấn luyện ngắn ngày. Ở các kho quân khí, khi tổ chức rút kinh nghiệm bảo quản, thống kê, áp tải, đều có cán bộ, phái viên cấp trên tham dự, kiểm điểm và đặt chương trình công tác. Tại các trung đoàn, để bổ sung lực lượng cứu thương, các đơn vị tiến hành huấn luyện cứu thương tại chỗ ngay giữa 2 đợt chiến đấu, hoặc triệu tập về trung đoàn vừa công tác, vừa học tập các kỹ thuật băng đầu, băng khớp, xương; phương pháp ga-rô, cầm máu, chống choáng... Ở các đơn vị ô-tô, chú ý kết hợp giữa bồi dưỡng chuyên môn với giáo dục đội ngũ lái xe ý thức lái xe êm để thương binh đỡ đau khi chuyển thương bằng ô-tô, thực hiện “Mỗi xe ô-tô là 1 bệnh xá lưu động”…

Có thể nói, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, song công tác HLHC trong chiến dịch ĐBP đã góp phần đào đạo, bồi dưỡng được hàng trăm cán bộ hậu cần cho Chiến dịch cả về quan điểm, tư tưởng và chuyên môn nghiệp vụ. Nhiều kinh nghiệm tổ chức, bảo đảm hậu cần được kịp thời tổng kết, biên soạn thành tài liệu để phổ biến rộng rãi, góp phần nâng cao hiệu suất công tác của cán bộ, nhân viên ở cơ quan và cơ sở. Không chỉ chuẩn bị cán bộ cho Chiến dịch, công tác HLHC trong chiến dịch ĐBP còn xây dựng và tôi luyện được đội ngũ cán bộ hậu cần có bản lĩnh và trình độ cao, đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ trong các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc sau này.

Nghiên cứu công tác HLHC trong Chiến dịch ĐBP đã để lại cho chúng ta nhiều suy nghĩ về việc nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả HLHC trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.  

Trước hết, tiếp tục quán triệt, đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 765-NQ/QUTW ngày 21-12-2012 của Quân ủy Trung ương về “Nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2013-2020 và những năm tiếp theo”. Hậu cần các cấp cần tiếp tục tổ chức quán triệt, nắm vững quan điểm, phương châm chỉ đạo, mục tiêu, yêu cầu công tác huấn luyện đã được Quân ủy Trung ương xác định. Trên cơ sở kết quả sau một năm thực hiện Nghị quyết, cần điều chỉnh, bổ sung chỉ tiêu, biện pháp cho phù hợp với Nghị quyết Trung ương 8 (khoá XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, sát với yêu cầu, nhiệm vụ của đơn vị. Quá trình thực hiện, chú trọng gắn chỉ tiêu, yêu cầu huấn luyện trong các kế hoạch, chương trình hành động với thực hiện những chỉ tiêu công tác huấn luyện hàng năm. Tập trung đột phá vào các nội dung trọng tâm, trọng điểm, khắc phục triệt để những khâu yếu, mặt yếu trong công tác huấn luyện; phấn đấu hoàn thành nội dung, chương trình huấn luyện đạt kết quả cao nhất.

Cùng với đó, tăng cường nghiên cứu, nắm chắc đối tượng tác chiến; âm mưu, thủ đoạn và cách thức tiến hành chiến tranh của địch; đẩy mạnh đổi mới nội dung, phương pháp HLHC phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.  Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc tương lai (nếu xảy ra) sẽ là chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao. Địch có ưu thế hơn hẳn ta về hoả lực; uy lực sát thương, phá hoại lớn; tác chiến điện tử rộng rãi, sức đột kích và khả năng cơ động nhanh, vận dụng nhiều phương thức, thủ đoạn tác chiến thâm độc; tập trung tối đa các loại lực lượng, phương tiện trinh sát hiện đại để phát hiện, đánh phá, tiêu diệt các lực lượng ta… Điều đó tác động lớn đến khả năng bảo đảm hậu cần, khiến ta gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì khả năng bảo đảm liên tục, dài ngày. Vì vậy, ngay từ thời bình, cần tích cực đi sâu nghiên cứu, nắm vững âm mưu, thủ đoạn tác chiến; tính năng các loại vũ khí, trang bị của địch… Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp, cách thức bảo đảm hậu cần phù hợp với phát triển của nghệ thuật quân sự, nhất là trong tác chiến chiến dịch, chiến lược; tác chiến bảo vệ biển, đảo; tác chiến hiệp đồng quân binh chủng…

Tập trung nghiên cứu bảo đảm hậu cần cho đổi mới cách đánh, các đơn vị được trang bị vũ khí mới, hiện đại, gắn với hậu cần nhân dân, hậu cần khu vực phòng thủ; nội dung, phương pháp tổ chức diễn tập chỉ huy tham mưu hậu cần; công tác tham mư­u hậu cần chiến dịch, chiến đấu và hậu cần thường xuyên; nâng cao năng lực chỉ huy, chỉ đạo, điều hành công tác hậu cần ở đơn vị. Tích cực đổi mới quy trình, chương trình, nội dung đào tạo, phương pháp dạy và học trong các nhà trường quân đội theo hướng tăng huấn luyện thực hành. Quan tâm đầu tư trang thiết bị, giáo trình, thư viện và phương tiện, mô hình học cụ, phòng học chuyên dùng...; tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ, nhân viên hậu cần tiếp cận các kiến thức khoa học, công nghệ mới, tiên tiến; khi ra trường có đủ khả năng đảm nhiệm và hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ theo chuyên ngành đào tạo...

Cùng với tăng cường giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nắm chắc nghị quyết, chỉ lệnh, mệnh lệnh huấn luyện của cấp trên, cần vận dụng linh hoạt, sáng tạo phương châm huấn luyện “Cơ bản, thiết thực, vững chắc”; coi trọng huấn luyện đồng bộ và chuyên sâu, sát tình hình thực tế đơn vị, thực tế chiến đấu, đối tượng tác chiến; phù hợp với tổ chức biên chế, trang bị kỹ thuật, nghệ thuật quân sự Việt Nam và truyền thống, kinh nghiệm ngành Hậu cần. Tích cực nghiên cứu đổi mới nội dung, phương pháp HLHC, phương pháp kiểm tra, phúc tra, hội thi, hội thao, tập huấn, diễn tập hậu cần sát thực tế nhiệm vụ, địa bàn của từng đơn vị. Chú trọng huấn luyện công tác hiệp đồng giữa các lực lượng bảo đảm trong khu vực phòng thủ; huấn luyện đồng bộ, vững chắc cả chỉ huy, cơ quan và đơn vị hậu cần; kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện cơ bản với huấn luyện ứng dụng theo các phương án tác chiến. Tăng cường huấn luyện dã ngoại, huấn luyện đêm, huấn luyện cơ động phòng tránh, đánh trả đòn tiến công hoả lực của địch. Chú trọng bồi dưỡng cán bộ hậu cần các cấp, nhất là cán bộ mới ra trường, cán bộ mới được bổ nhiệm, cán bộ các cơ quan chiến lược, chiến dịch... Quá trình huấn luyện, cần chú trọng truyền thụ cho bộ đội những kinh nghiệm huấn luyện và bảo đảm hậu cần trong các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc trước đây.

Đặc biệt, các cơ quan chức năng của Bộ và Tổng cục Hậu cần cần chủ động phối hợp với các học viện, nhà trường thống nhất nội dung, hình thức huấn luyện, tập huấn, thao diễn, hội giảng và diễn tập theo lộ trình Đề án 63, gắn nhà trường với chiến trường, nhà trường với đơn vị. Đề nghị Nhà nước, Bộ Quốc phòng có cơ chế, chính sách tạo điều kiện cho ngành Hậu cần mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trên một số lĩnh vực: đào tạo cán bộ khoa học quân sự hậu cần, gửi giáo viên, học viên đi nghiên cứu, thực tập tại nước ngoài... nhằm nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, nhân viên hậu cần, đủ sức đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ được giao trong tình hình mới.

Đại tá NGUYỄN HÙNG THẮNG (Phó Tham mưu trưởng TCHC)