Cách đây 70 năm, tháng 12/1944, Lãnh tụ Hồ Chí Minh viết Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và giao nhiệm vụ cho đồng chí Võ Nguyên Giáp tổ chức, chỉ huy Đội.
Đúng 17 giờ ngày 22/12/1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, thay mặt đoàn thể, đồng chí Võ Nguyên Giáp tuyên bố thành lập và giao nhiệm vụ cho Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Đội gồm 34 đồng chí được chọn lọc rất kỹ trong các đội du kích Cao- Bắc- Lạng. Đồng chí Hoàng Sâm được cử làm Đội trưởng, đồng chí Xích Thắng làm Chính trị viên, đồng chí Văn Tiên (tức Lộc Văn Lùng) - người cao tuổi nhất được phân công làm quản lý chuyên lo việc bảo đảm đời sống vật chất cho Đội. Tối 22/12/1944, Đội tổ chức bữa cơm nhạt, không rau, không muối để nêu cao tinh thần chịu đựng và vượt mọi khó khăn, gian khổ của người chiến sỹ cách mạng. Thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh: “Trong vòng một tháng phải có hoạt động để gây tin tưởng cho các chiến sỹ và gây truyền thống hành động tích cực cho bộ đội”, đêm ngày 25/12 và sáng 26/12/1944, Đội ra quân đánh thắng trận Phai Khắt và Nà Ngần, thu được số lượng lớn súng, đạn, đủ trang bị cho các đội viên, còn toàn bộ súng kíp chuyển giao cho du kích. Trong 2 trận này, đồng chí Văn Tiên đã chủ động liên hệ, hiệp đồng với nhân dân địa phương tổ chức nấu ăn, tiếp tế cơm nước cho Đội. Chỉ sau ngày thành lập 1 tuần, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã phát triển thành một đại đội gồm 4 trung đội. Về lực lượng hậu cần, từ 01 người quản lý, Đội đã hình thành Ban Quản lý.
Đầu năm 1945, Đội tiếp tục đánh một số trận, thu nhiều vũ khí, trang bị cho các đội viên mới được bổ sung. Trong đó có trận diệt địch ở đèo Cao Bắc (gần Nà Ngần), thu 30 súng và nhiều đạn dược. Trong quá trình hành quân, chiến đấu, việc nấu cơm nước và tiếp tế cho Đội đều do các tổ chức quần chúng cơ sở, đoàn thể phụ nữ trực tiếp đảm nhiệm. Căn cứ vào kế hoạch hoạt động của Đội, đồng chí Văn Tiên liên hệ, hiệp đồng với các đoàn thể, cơ sở quần chúng tổ chức tiếp tế tại chỗ. Như vậy, ngay từ khi có chủ trương đấu tranh vũ trang, thành lập quân đội, Đảng ta và Bác Hồ đã lo và tính trước việc cung cấp. Nhưng trong điều kiện vô cùng khó khăn, nguồn vật chất hậu cần và lực lượng làm công tác cung cấp, tiếp tế chủ yếu dựa vào nhân dân.
Đêm ngày 09/3/1945, Nhật đảo chính, lật đổ chính quyền thực dân Pháp, Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Thực hiện chỉ thị của Đảng, các đội vũ trang đẩy mạnh hoạt động, tước khí giới của địch, giải tán chính quyền địch, thành lập chính quyền cách mạng, phát triển lực lượng. Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân phát triển thành nhiều đại đội và trên đường “Nam tiến” đã thu hàng ngàn súng (có cả súng máy và súng cối) của tàn quân Pháp bị phát xít Nhật đánh đuổi.
Ngày 13/8/1945, Uỷ ban khởi nghĩa phát Quân lệnh số 01, yêu cầu Việt Nam Giải phóng quân “Tập trung lực lượng, kịp đánh vào các đô thị và trọng điểm của quân địch, đánh chặn các đường rút lui của chúng, tước vũ khí của chúng... Khi đánh được một trận thì lập tức bổ sung số vũ khí thu được cho bộ đội”. Từ chiều 16/8-20/8/1945, các đơn vị Giải phóng quân cùng nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang khởi nghĩa giành chính quyền; thu hơn 600 khẩu súng và nhiều đạn dược của địch, trang bị cho 2 chi đội Giải phóng quân mới thành lập. Tại Hà Nội, các đội xung phong công tác và tự vệ, với trang bị súng ngắn, súng trường, lựu đạn và phần lớn là vũ khí thô sơ dẫn đầu các đoàn quần chúng đánh chiếm Bắc Bộ phủ, trại bảo an, các công sở, kho tàng... Ngày 19/8, khởi nghĩa thắng lợi. Lực lượng Giải phóng quân và Tự vệ Hà Nội được trang bị súng mới thu được của địch để bảo vệ công sở, kho tàng, giữ gìn trị an... Ngày 23/8/1945, khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Huế và ngày 25/8/1945, Sài Gòn-Gia Định khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi... Ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Sau ngày Quốc khánh 3 tuần, quân Pháp núp sau quân Anh quay lại gây hấn ở Sài Gòn. Ở miền Bắc, 20 vạn quân Tưởng dưới danh nghĩa quân đồng minh vào tước vũ khí quân Nhật tràn vào, đi cùng là bọn phản động. Âm mưu của chúng là bóp chết Nhà nước cộng hòa non trẻ. Để bảo vệ thành quả cách mạng và chuẩn bị cho kháng chiến, Đảng và Chính phủ đặc biệt quan tâm xây dựng lực lượng vũ trang tập trung. Tháng 9/1945, Hồ Chủ tịch chỉ thị phải nhanh chóng chấn chỉnh, mở rộng Giải phóng quân Việt Nam và đổi tên thành Vệ quốc đoàn (quân đội quốc gia). Chỉ thời gian ngắn, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân từ 5.000 người đã phát triển thành nhiều chi đội với hơn 5 vạn người. Để bảo đảm cung cấp cho Đội, đầu tháng 9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định thành lập Phòng Quân nhu trên cơ sở Uỷ ban Binh lương. Lúc thành lập, Phòng có 20 người, do đồng chí Vũ Anh -Ủy viên Trung ương Đảng làm Trưởng phòng. Nhiệm vụ của Phòng Quân nhu là thu gom gạo ở các kho của Nhật còn lại ở khu vực Hà Nội; thu gom quân trang của các trại bảo an binh trước đây về sửa chữa lại cho chiến sỹ vệ quốc đoàn; thu mua muối, gạo... ở các đơn vị và địa phương. Từ đây, tổ chức quân nhu từng bước hình thành để lo việc nuôi dưỡng bộ đội.
Ngày 15/9/1945, Phòng Quân giới được thành lập, do đồng chí Nguyễn Ngọc Xuân, Bộ trưởng không bộ Chính phủ lâm thời làm Trưởng phòng. Nhiệm vụ của Phòng Quân giới là thu thập, mua sắm và tổ chức sản xuất, sửa chữa vũ khí. Phòng Quân giới đã phối hợp với Phòng Quân nhu, các cơ quan và địa phương thu mua được một khối lượng lớn vũ khí đạn của bọn sỹ quan Tưởng, Nhật và Pháp; đồng thời mở rộng xưởng vũ khí đã có từ tiền khởi nghĩa và xây dựng mới nhiều xưởng vũ khí cả ba miền Bắc, Trung, Nam để chuẩn bị cho kháng chiến.
Cuối tháng 9/1945, Ban Y tế Vệ quốc đoàn Hà Nội thành lập, đến tháng 12/1945 chuyển thành Ban Y tế Vệ quốc đoàn Bộ Tổng tham mưu. Lúc thành lập, Ban có 2 bác sỹ, một số sinh viên y khoa, do Bác sỹ Vũ Văn Cẩn làm Trưởng ban. Ban thành lập bệnh xá ở trại Vệ quốc đoàn Hà Nội để khám chữa bệnh cho bộ đội; đồng thời, tổ chức được 1 lớp đào tạo y tá, cứu thương cho các đơn vị khu vực Hà Nội.
Ngày 25/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 34/SL về tổ chức Bộ Quốc phòng, trong đó có: Quân nhu Cục, Chế tạo Quân giới Cục và Quân y Cục phụ trách các mặt sản xuất, cung cấp, tiếp tế, phục vụ Quân đội; các cơ quan và cơ sở, trường lớp, xí nghiệp, bệnh xá, bệnh viện, hệ thống kho tàng... được gấp rút tổ chức xây dựng. Ngày 19/10/1946, Hội nghị quân sự toàn quốc của Đảng đã kiểm điểm công tác chuẩn bị kháng chiến và quyết định: “Phải luôn chuẩn bị, đề phòng, đề phòng hơn trước kia” và “Không ngừng một phút công tác chuẩn bị”. Bộ đội và nhân dân ta đã chuyển những vật chất có thể chuyển được lên các chiến khu, các vùng căn cứ địa. Từ tháng 3/1946 - 4/1947, việc di chuyển vật chất đã hoàn thành; từ Khu 5 trở ra, có 20.400 tấn muối, 2,5 triệu mét vải, hàng ngàn tấn gạo và hơn 42.000 tấn vật tư, máy móc thiết bị quân giới được vận chuyển lên Việt Bắc và các căn cứ kháng chiến địa phương.
Về tổ chức hậu cần, đến ngày toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), mỗi khu đều có phòng quân nhu-tài chính, phòng quân giới (hoặc ty, sở quân giới). Riêng ngành Quân y, ở Bắc Bộ, mỗi khu có quân y vụ, ở Trung Bộ có quân y phân cục và ở Nam Bộ mỗi khu có phòng quân y (tương đương với quân y vụ). Về công tác dược, lúc này mới hình thành tổ chức Trung ương và phân cục. Tại các đơn vị cơ sở từ trung đoàn (chi đội) đến tiểu đoàn, đại đội cũng bắt đầu hình thành các tổ chức: quân nhu, tài chính, quân y, quân giới theo hệ thống dọc từ trên xuống dưới, nhưng còn đơn giản, tên gọi, biên chế, nhiệm vụ... của từng cấp chưa thống nhất. Do ngành Hậu cần Quân đội chưa hình thành về mặt tổ chức, nên Quân nhu Cục đảm nhiệm bảo đảm mọi nhu cầu vật chất cho quân đội. Sau khi hoàn thành việc tổng di chuyển vật chất, lực lượng, Hậu cần Quân đội đã nhanh chóng phối hợp với hậu cần nhân dân tại chỗ chuẩn bị và bảo đảm cho chiến dịch Việt Bắc -Thu Đông 1947, đánh bại hơn 2 vạn quân Pháp, đập tan âm mưu “Chiến tranh chớp nhoáng” của địch. Vừa kiến quốc, vừa kháng chiến trong điều kiện kinh tế cực kỳ khó khăn, nên việc bảo đảm hậu cần cho quân đội phải dựa vào khả năng của nhân dân, của từng địa phương, thực hiện bảo đảm “tại chỗ” và “có gì cấp nấy”.
Trước nhu cầu phát triển lực lượng và phục vụ chiến đấu ngày càng cao và xa căn cứ, ngày 18/6/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 50/SL về tổ chức, nhiệm vụ Bộ Quốc phòng -Tổng Tư lệnh, quyết định thành lập Cục Vận tải. Các ngành bảo đảm ở Trung ương được tách ra, tổ chức thành 3 cục và 3 nha. Các cục và phòng tài chính chịu sự chỉ đạo của cơ quan Đổng lý quân vụ, có nhiệm vụ cung cấp lương thực, thực phẩm, quân trang, quân dụng, vũ khí đạn dược, thuốc men, dụng cụ y tế và những nhu cầu cần thiết cho các lực lượng vũ trang. Các nha chịu sự chỉ đạo của cơ quan Đổng lý sự vụ, làm nhiệm vụ nghiên cứu khoa học kỹ thuật, đẩy mạnh sản xuất đáp ứng các nhu cầu xây dựng và tác chiến của lực lượng vũ trang. Hệ thống tổ chức trên đều đặt dưới sự chỉ đạo tập trung thống nhất của Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh. Song, do tổ chức các ngành Quân nhu, Quân y, Quân giới ở Trung ương còn cồng kềnh, việc hiệp đồng thực hiện kế hoạch sản xuất và bảo đảm giữa các ngành gặp nhiều khó khăn, trở ngại. Vì vậy, trước chiến dịch Biên giới, hai hệ thống nha và cục sáp nhập làm một như trước.
Lúc này, bộ đội chủ lực và địa phương phát triển mạnh, Trung ương Đảng chủ trương “Một mặt chiến đấu để tiêu diệt sinh lực địch, một mặt gấp rút bồi dưỡng và xây dựng Quân đội Nhân dân ngày càng tinh nhuệ”, “Tăng cường việc tiếp tế và hoả lực của quân đội ta một cách chắc chắn”. Vì vậy, Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định kiện toàn bộ máy chỉ đạo quân sự Trung ương, chấn chỉnh tổ chức Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh. Ngày 11/7/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 121/SL quy định tổ chức Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh gồm ba cơ quan, trong đó có Tổng cục Cung cấp (tức Tổng cục Hậu cần ngày nay) để thực hiện nhiệm vụ trang bị, cấp dưỡng quân đội và sản xuất quốc phòng. Từ đây, ngành Cung cấp (Hậu cần) Quân đội hình thành, thống nhất chỉ đạo, chỉ huy các ngành Quân nhu, Quân y, Quân giới, Quân khí, Vận tải, tập trung mọi khả năng, đáp ứng yêu cầu tác chiến.
Ngay sau khi thành lập, Tổng cục Cung cấp đã khẩn trương tổ chức chuẩn bị bảo đảm cho chiến dịch Biên giới- chiến dịch lớn đầu tiên do Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ huy. Hậu cần Quân đội đã phối hợp chặt chẽ với hậu cần nhân dân địa phương bảo đảm 1.886 tấn gạo, thực phẩm; 41 tấn vũ khí đạn; cứu chữa 1.560 thương binh... Đồng bào Cao Bằng, Lạng Sơn đã huy động 120.000 lượt dân công với hơn 1,6 triệu ngày công, sửa chữa 698 km đường ô tô, huy động hàng trăm tấn gạo và 73 tấn ngô phục vụ chiến dịch. Sau chiến dịch Biên giới, các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai hoàn toàn giải phóng. Căn cứ địa Việt Bắc được mở rộng, phía Bắc nối liền với nước Trung Hoa mới, tạo điều kiện tiếp nhận viện trợ của các nước XHCN anh em, phía Nam nối liền với vùng tự do Liên khu 3, 4, tạo thế liên hoàn cung cấp sức người, sức của cho kháng chiến.
Như vậy, từ khi thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đến cuối năm 1950, tổ chức Hậu cần Quân đội đã đi từ không đến có, từ nhỏ đến lớn và dần dần hình thành các ngành hoàn chỉnh. Tổ chức ngành Hậu cần Quân đội không ngừng phát triển và luôn gắn bó máu thịt, kết hợp chặt chẽ với hậu cần nhân dân bảo đảm kịp thời, đầy đủ nhu cầu hậu cần cho quân đội xây dựng, chiến đấu và ngày càng lớn mạnh. Đó cũng là tiền đề quan trọng cho việc xây dựng ngành Hậu cần Quân đội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ giai đoạn tiếp theo và trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.
Đại tá, PGS, TS LÊ HỒNG THÁI (Học viện Quốc phòng)