QĐND - Sau hai ngày làm việc, Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ 6 đã kết thúc chiều qua (18-11), tại Đà Nẵng. Nhiều ý kiến tâm huyết, giá trị của các học giả trong và ngoài khu vực đã được đưa ra, tất cả chung một mục đích là giúp tăng cường hiểu biết, lòng tin và hợp tác vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng chung ở Biển Đông...

Vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam có cơ sở pháp lý vững chắc

Với tinh thần thẳng thắn, cầu thị và xây dựng của giới học thuật, vấn đề Biển Đông đã được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau như: Địa chính trị, quan hệ quốc tế, luật pháp quốc tế. Trong bối cảnh tranh chấp giữa các nước trong khu vực liên quan đến việc giải thích và áp dụng luật pháp quốc tế, các học giả đã phân tích chế độ pháp lý đối với các thực thể trên biển, các vùng biển, đặc biệt là vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, khu vực nhận diện phòng không tại các khu vực chồng lấn; kinh nghiệm áp dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp biển trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982).

Các học giả đã nêu rõ quá trình hình thành quy định về Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý, theo đó, các quốc gia ven biển có thẩm quyền đặc biệt để phát triển và quản lý quy chế bảo tồn các nguồn tài nguyên trong EEZ của mình. Trên cơ sở các quy định của UNCLOS 1982, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trong EEZ 200 hải lý là có cơ sở pháp lý vững chắc theo luật pháp quốc tế.

Quang cảnh phiên thảo luận về chủ đề “Các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề Biển Đông”.

Không đơn phương làm thay đổi nguyên trạng

Điểm nổi bật của hội thảo lần này là các học giả đã đề xuất nhiều sáng kiến nhằm quản lý và giải quyết tranh chấp ở Biển Đông. Các học giả đặc biệt nhấn mạnh rằng, trong bối cảnh tình hình Biển Đông căng thẳng và có nhiều biến động hiện nay, trước tiên, các bên liên quan cần nỗ lực kiềm chế, không thực hiện các chính sách đơn phương làm thay đổi nguyên trạng tại Biển Đông. Các hoạt động xây dựng, bồi đắp đảo nhân tạo với quy mô lớn, với triển vọng biến các bãi ngầm, đảo đá thành các căn cứ quân sự trong khu vực tranh chấp tại Biển Đông, hoặc thành lập vùng nhận dạng phòng không để củng cố yêu sách của mình, không chỉ trái với luật pháp quốc tế mà còn làm gia tăng nghi kỵ khiến tình hình thêm phức tạp, thậm chí có thể dẫn đến xung đột.

Các học giả nêu bật sự cần thiết tuân thủ những thỏa thuận khu vực hiện hành, trong đó có Tuyên bố về ứng xử ở Biển Đông (DOC) và thúc đẩy hợp tác trong các diễn đàn, cơ chế hiện có, các cơ chế diễn đàn đa phương mà quan trọng nhất là các diễn đàn mà ASEAN đóng vai trò trung tâm.

Thành lập các cơ chế quản lý tranh chấp

Bên cạnh đó, nhiều học giả đã nêu đề xuất giảm căng thẳng bằng cách thành lập các cơ chế quản lý tranh chấp và khuyến khích tất cả các bên liên quan có thái độ hợp tác linh hoạt, tìm những cách áp dụng và giải thích luật pháp quốc tế phù hợp, được công nhận rộng rãi để giải quyết các tranh chấp, bất đồng trên Biển Đông.

Một số đề xuất cụ thể là: Xây dựng quy tắc ứng xử nhằm củng cố việc tuân thủ luật pháp quốc tế ở Biển Đông; đưa ra các khuyến nghị cụ thể nhằm giải thích Điều 5 của DOC, xác định rõ những hành động của các bên cần được khuyến khích, cho phép, những hành động cần kiềm chế thực hiện để bảo đảm không làm thay đổi nguyên trạng và tạo môi trường thuận lợi cho hợp tác, giải quyết tranh chấp tại Biển Đông; thảo luận các quy tắc chung về hoạt động của các lực lượng quân sự và các lực lượng thực thi pháp luật trong các vùng biển để bảo đảm tự do và an toàn hàng hải, phòng ngừa các va chạm, sự cố bất ngờ ở Biển Đông, giảm các sự cố trên biển do việc đơn phương áp đặt quyền thực thi pháp luật của một quốc gia đối với người và tàu của quốc gia khác trong các vùng biển chồng lấn; xây dựng cơ chế hợp tác trong các lĩnh vực an ninh phi truyền thống như: Phòng, chống cướp biển, cướp có vũ trang trên biển, tìm kiếm, cứu nạn đối với người và tàu trên biển; đẩy mạnh các biện pháp và các kênh, cơ chế chia sẻ thông tin biển; thúc đẩy hợp tác khai thác và quản lý tài nguyên thiên nhiên sinh vật biển; bảo vệ, bảo tồn, nghiên cứu môi trường biển.

Một số ý kiến cho rằng, chính tình hình phức tạp ở Biển Đông lại mở ra các cơ hội để các nước ASEAN và các đối tác của ASEAN trong và ngoài khu vực đóng vai trò tích cực hơn trong hỗ trợ tìm kiếm các giải pháp cho vấn đề Biển Đông. Như hai nhà nghiên cứu, ông Bru-nô Hê-lên-hóp (Bruno Hellendorff) và Vũ Trường Minh cho rằng, Liên minh châu Âu (EU) có nhiều lợi ích chiến lược tại Biển Đông và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong việc phòng, chống, quản lý xung đột cũng như sáng lập và thực hiện các quy tắc luật quốc tế; do vậy, EU hoàn toàn có thể chia sẻ các kinh nghiệm của mình, giúp các nước trong khu vực Biển Đông quản lý và giải quyết tranh chấp tại khu vực.

Phát biểu bế mạc hội thảo, Đại sứ Đặng Đình Quý, Giám đốc Học viện Ngoại giao, bày tỏ mong muốn các học giả tiếp tục làm rõ một số vấn đề mà trong quá trình thảo luận vẫn còn ý kiến khác nhau. “Chúng tôi hy vọng, các quý vị sẽ tiếp tục đóng góp giúp các bên liên quan, nhất là các nhà hoạch định chính sách, dư luận báo chí nhận thức rõ hơn các biến động địa chiến lược mới, các động lực, lợi ích và lực lượng mới đang tác động tới tình hình Biển Đông hiện nay, giúp tránh những nhận thức chưa chính xác, giảm các tính toán sai lầm và các nguy cơ tiềm tàng”, Đại sứ Đặng Đình Quý nói.

Bài, ảnh: BẢO TRUNG