|
|
|
Cổng vào khu chế xuất Tân Thuận |
QĐND - Phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất (KCN, KCX) là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Thực tế thời gian qua, các KCN-KCX đã đóng góp tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp cả nước. Tuy nhiên, việc hình thành và phát triển các KCN-KCX ở một số địa phương quá nhanh, làm cho đất đai ở một số khu bỏ hoang và đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết...
“Đôi đũa thần kỳ”
Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong 15 năm qua, kể từ khi Khu chế xuất Tân Thuận là khu chế xuất đầu tiên ở Việt Nam được thành lập vào năm 1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh , đến nay, cả nước đã có 135 KCN, KCX được thành lập với diện tích đất tự nhiên là 27.748ha, trong đó đất công nghiệp cho thuê 18.615ha phân bố rộng khắp 46 tỉnh, thành phố. Lớn nhất là KCN Phú Mỹ I (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) có diện tích 954ha. Đó là chưa kể đến hàng nghìn điểm, cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp khác có quy mô nhỏ của các địa phương. Tính đến thời điểm này, các KCN, KCX cả nước đã thu hút được hơn 2.400 dự án trong nước với tổng số vốn đầu tư đăng ký khoảng 116.000 tỷ đồng và 2.200 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký hơn 17,7 tỷ USD, thu hút hơn 850.000 lao động. Theo nhận xét của một số chuyên gia kinh tế thì nhiều KCN, KCX đã thực sự là những “đôi đũa thần” đánh thức tiềm năng kinh tế của các địa phương, là những “đầu tầu” kéo theo nền kinh tế của cả vùng. Chỉ tính riêng năm 2005, giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp trong các KCN, KCX đã đạt 14 tỷ USD, gấp 3 lần so với năm 2001 và chiếm 28% tổng giá trị sản xuất công nghiệp cả nước. Dự kiến trong năm 2006 này, giá trị sản xuất công nghiệp, dịch vụ của các KCN, KCX sẽ còn chiếm tỷ trọng cao hơn trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp và dịch vụ của cả nước.
Theo nhận định của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc: Trong 15 năm qua, các KCN, KCX ở Việt Nam đã hình thành và phát triển một cách có hệ thống ở các miền đất nước, đồng thời có những đóng góp tích cực vào sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu địa phương và cả nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Bao giờ lấp đầy
Cách đây gần 10 năm, tôi được mời dự lễ động thổ KCX của Hải Phòng. Buổi lễ khá hoành tráng với nhiều lời hứa hẹn của chủ đầu tư và lãnh đạo địa phương. Thế nhưng, mới đây, vào thăm “Khu chế xuất” ngày xưa, tôi thực sự thất vọng. Trên diện tích 150ha, chỉ lác đác có vài ngôi nhà, còn hầu hết là cỏ dại. Một nhân viên của KCX (nay được đổi tên thành KCN) cho biết: Đến nay mới chỉ có khoảng 10% đất được cho thuê, phần diện tích còn lại vẫn nằm lẫn cùng sú vẹt, ao đầm…
Ở ngay cạnh Hà Nội, KCN Văn Lâm (Hưng Yên) có một số dự án có diện tích đất lớn như Nhà máy in thiết bị rộng 2ha, khu giai đoạn 2 của Công ty ô tô Cửu Long rộng 5ha suốt 3 năm qua vẫn để cỏ mọc tốt um…
Trường hợp đất KCN, KCX để cỏ dại mọc không phải là cá biệt. Số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, hiện nay, tỷ lệ lấp đầy các KCN chỉ khoảng 50%. Phần lớn diện tích các khu, cụm công nghiệp còn để lãng phí, tập trung nhiều tại các tỉnh, có nhiều trường hợp đã đăng ký nhưng việc đầu tư kéo dài, hiệu quả sử dụng đất thấp. Đáng chú ý là việc giao đất, cho thuê đất chưa dựa trên mức độ cần thiết về diện tích đất của từng dự án. Một số địa phương do nóng vội muốn “chạy theo phong trào” đã phát triển quá nhanh các KCN, KCX. Một mâu thuẫn dễ nhận thấy là càng xây dựng nhiều KCN để chờ nhà đầu tư thì khả năng lấp đầy lại càng thấp. Từ đó mới có tình trạng thu hồi đất của dân, xây tường cho cao, cho chặt để giữ… cỏ hoang.
Theo một thống kê mới đây của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, tỷ lệ lấp đầy các KCN chỉ khoảng 50%, nhiều khu, cụm công nghiệp để đất trống trong thời gian dài.
Theo đánh của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, quá trình xây dựng và phát triển các KCN, KCX ở Việt Nam thời gian qua đã bộc lộ những hạn chế. Nhiều vấn đề cấp bách về xã hội và môi trường cần phải nhanh chóng tìm cách giải quyết. Số liệu khảo sát của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội cho biết: Trung bình mỗi hộ trong khu vực thu hồi đất có 1,5 lao động rơi vào tình trạng không có việc làm và mỗi héc-ta đất nông nghiệp bị thu hồi có tới 13 lao động mất việc làm trong ngành nông nghiệp. Như vậy, số lao động mất việc làm do phải thu hồi đất làm các KCN, KCX trong cả nước là rất lớn.
Hiệu quả kinh tế gắn với sự bền vững về môi trường
Theo ý kiến của tiến sĩ Lê Hữu Nghĩa, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh thì KCX và KCN được hình thành là một trong những giải pháp quan trọng để thu hút vốn đầu tư phát triển, đặc biệt là vốn đầu tư nước ngoài, bởi vậy các khu này cần phải vừa đạt hiệu quả kinh tế, vừa bảo đảm tính bền vững về môi trường.
Vấn đề cấp bách hiện nay là cần phải xem xét, đánh giá lại hiệu quả đích thực của các KCN, KCX cả về kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh và môi trường để điều chỉnh quy hoạch cho phù hợp. Với các KCX, KCN mới được xây dựng, cần chú ý đến các yếu tố xã hội, đặc biệt là vấn đề giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất, có thể chuyển đổi một phần kinh phí hỗ trợ giải phóng mặt bằng để dạy nghề cho nông dân vào làm việc tại các KCN, KCX hoặc chuyển số tiền này làm cổ phần ở các doanh nghiệp trong KCN, KCX. Trong việc xây dựng các KCN, KCX mới cũng cần phải chú ý đến cuộc sống của những lao động di cư đến làm việc tại đây. Cần thiết phải có nơi xây dựng nhà ở cho họ và con cái họ.
Được biết, trong kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006-2010, diện tích đất dành cho phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp sẽ đạt 100.470ha, tăng gần gấp đôi diện tích so với năm 2005. Diện tích này chủ yếu nhằm đáp ứng cho nhu cầu phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại các địa phương, đặc biệt là đối với các làng nghề nông thôn. Việc quy hoạch các khu, cụm công nghiệp này cần gắn với quy hoạch nhiệm vụ quốc phòng-an ninh và bảo vệ môi trường.