Đây là ý kiến của các nhà khoa học, đại diện các cơ quan quản lý và một số doanh nghiệp tại cuộc tọa đàm về chủ đề: “Nhập khẩu, phá dỡ tàu cũ và vấn đề môi trường” do Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam tổ chức mới đây tại Hà Nội.
Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng tất cả các đại biểu tham dự cuộc tọa đàm này đều thống nhất cho rằng nguyên tắc tối thượng là: mọi người phải tuân thủ luật pháp, đặc biệt là Luật Bảo vệ môi trường, khi Bộ luật này chính thức có hiệu lực từ ngày 1-7-2006. Quan điểm của đại diện Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam là: việc nhập, phá dỡ tàu cũ để lấy thép chỉ có lợi cho một số cá nhân và doanh nghiệp, gây thiệt hại lâu dài cho môi trường của nước ta, nhất là những công nhân làm nghề phá dỡ tàu cũ và cư dân các khu vực phụ cận. Theo số liệu của Hội công bố: Công ty công nghiệp tàu thủy Ngô Quyền (Hải Phòng) trực thuộc Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam chỉ có vốn liếng 200 triệu đồng (năm 1996) doanh thu 2 tỷ đồng, nhưng đến tháng 9-2001 đã có doanh thu 40 tỷ đồng, nhưng người công nhân phải làm việc trong môi trường độc hại và lương bình quân hằng tháng của họ chỉ là 1 triệu đồng. Đặc biệt, các chất độc hại trong phá dỡ tàu như: amiăng (dùng để cách nhiệt và chống hỏa hoạn trên tàu), ô-xít chì, PCB (dùng chống mài mòn), thạch tín, thủy ngân (trộn vào sơn để chống hà)... sẽ tồn lưu lâu dài trong môi trường và đe dọa tới sức khỏe và tính mạng của con người. Các chuyên gia này cho rằng: Phá dỡ tàu biển lấy sắt thép là “công nghiệp gây chết người”. Mặc dù chỉ có thống kê về những thiệt hại do nổ ga, nhiễm độc thủy ngân, ung thư phổi do bụi amiăng, nhiễm độc chì và a-sen... ở nước ngoài, nhưng các tác giả này cũng thống kê được khá cụ thể về một lượng rác thải khổng lồ của công ty sản xuất khí công nghiệp-phá dỡ tàu cũ tại Việt Nam đã thải ra trong giai đoạn từ năm 1996 đến 2001; đồng thời cho biết: số rác độc hại này hoàn toàn không được xử lý, mà chỉ chôn lấp sơ sài tại bãi phá dỡ của công ty. Nghiêm trọng hơn cả là: những người lao động sống và làm việc trong môi trường này không được trang bị các công cụ bảo vệ cá nhân và họ rất dễ bị ảnh hưởng đến sức khỏe.
Đại diện Hiệp hội Thép Việt Nam và một số cơ sở chuyên phá dỡ tàu cũ mặc dù khẳng định rằng: công nghiệp phá dỡ tàu cũ để lấy thép đã mang lại hiệu quả rất lớn về kinh tế (mỗi tấn thu lợi 200USD), tạo nhiều việc làm cho người lao động; đồng thời phàn nàn: do văn bản pháp quy của nhà nước chồng chéo; còn nhiều ý kiến chỉ đạo triển khai Luật Bảo vệ môi trường khác nhau, thiếu thực tiễn, gây phiền hà cho các doanh nghiệp. Đặc biệt, các doanh nghiệp thực hiện theo Nghị định 49 của Thủ tướng Chính phủ chưa được bao lâu thì lại bị văn bản khác phủ định. Vì thế, cần phải xem xét lại điều 42.2b trong Luật Bảo vệ môi trường vì nó chưa phù hợp với trình độ phát triển kinh tế-xã hội hiện nay của Việt Nam... Nhưng cuối cùng các đại biểu này cũng không phản đối khi Phó chủ tịch, kiêm Tổng thư ký Liên hiệp các Hội KH và KT Việt Nam kết luận: phải tuân thủ Luật Bảo vệ môi trường, ngừng ngay việc nhập khẩu, phá dỡ tàu cũ. Một số luật gia và đại diện các cơ quan quản lý môi trường trước đó cũng cho rằng: lợi nhuận mà đại diện Hiệp hội Thép Việt Nam và một số doanh nghiệp đưa ra chỉ là một phần dễ nhìn thấy, còn những thiệt hại về môi trường lâu dài không thể định tính được. Cụ thể như các làng ung thư xuất hiện gần đây là hệ lụy của các hoạt động gây ô nhiễm môi trường từ nhiều năm trước, tới nay mới bộc lộ. Còn lý do một số doanh nghiệp đưa ra về sự chồng chéo các văn bản pháp luật cũng không phải khó giải quyết, bởi nếu văn bản nào có hiệu lực cao hơn thì phải áp dụng theo văn bản đó. Cụ thể trong trường hợp này: không thể vin vào Nghị định 49 để không chấp hành Luật Bảo vệ môi trường và nếu Nghị định này có điều nào sơ suất, gây thiệt hại thì Chính phủ phải bồi thường cho các doanh nghiệp. Một điều không kém phần quan trọng là: tại buổi tọa đàm này, các đại biểu cũng thống nhất yêu cầu các cơ quan chức năng của nhà nước cần tháo gỡ những khó khăn cho các doanh nghiệp đã trót nhập tàu cũ về trước ngày 1-7-200, ngày Luật Bảo vệ môi trường có hiệu lực; đồng thời Chính phủ giao cho một cơ quan nghiên cứu kỹ, để đưa ra kết luận có tính thuyết phục về vấn đề này, nhằm góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội một cách bền vững.
TUẤN CƯỜNG