Hoạt động nghiệp vụ tại Ngân hàng Công thương Việt Nam. Ảnh: Nguyên Xuân

Lời toà soạn: Cả nước sôi nổi vào cuộc đấu tranh kiềm chế lạm phát. Trong những diễn biến phức tạp của thị trường, giá cả thế giới và trong nước, kiềm chế lạm phát càng đòi hỏi nhận thức đúng tình hình, đề ra và thực hiện các giải pháp đồng bộ theo định hướng của Chính phủ.

Để giúp bạn đọc hiểu rõ hơn những vấn đề đó, chúng tôi đã có các cuộc trao đổi ý kiến với một số đồng chí với tư cách là các chuyên gia, đang công tác trên các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến lạm phát: Đó là tiền tệ, bất động sản và giá cả.

Bài 1

Tiến sĩ Dương Thu Hương, Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam:

Chính sách tiền tệ: Dự báo đúng để có quyết định đúng

Ngành ngân hàng đang trở thành tâm điểm thực hiện các giải pháp kiềm chế lạm phát thời gian qua. Trong những giải pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ, chính sách tiền tệ là một trọng tâm. Tiến sĩ Dương Thu Hương, Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam đã trao đổi về những tác động của chính sách tiền tệ đến hoạt động của các ngân hàng nói riêng cũng như kiềm chế lạm phát nói chung.

Đặt lợi ích quốc gia lên trên hết

- Điều hành mức tăng trưởng tín dụng tối đa 30%, đưa ra mức trần lãi suất, phát hành tín phiếu bắt buộc… là những giải pháp được áp dụng với các ngân hàng để kiềm chế lạm phát. Theo đồng chí, những giải pháp này có quá sức chịu đựng của các ngân hàng, nhất là trong thời điểm họ cũng đang gặp nhiều khó khăn?

Tiến sĩ Dương Thu Hương

- Ngân hàng thực tế cũng là các doanh nghiệp, họ có vốn thì họ đầu tư, đó là chuyện đương nhiên. Nhưng sự đầu tư ấy ảnh hưởng đến cân đối kinh tế vĩ mô, nên Nhà nước phải có chính sách để kiểm soát. Vào những lúc khó khăn như thế này, càng phải đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, vì thế cần buộc hoạt động ngân hàng phải ở trong một khuôn khổ.

Mặc dù vậy, Chính phủ đã có chỉ đạo, trong lúc hút tiền về vẫn phải bảo đảm khả năng chịu đựng của các ngân hàng, nói nôm na là tôi đo sức khỏe của anh để tôi đưa liều thuốc cho anh. Không phải cho thuốc người khỏe cũng như người yếu mà với những ngân hàng sức yếu sẽ có những chính sách mềm mỏng hơn. Ví dụ ngày 17-3 là thời hạn phải mua tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, nhưng với những ngân hàng không có đủ tiền để mua thì Ngân hàng Nhà nước sẽ giãn hoặc hoãn thời gian.

Sự tăng trưởng tín dụng quá nóng của các ngân hàng đã dẫn đến thiếu hụt thanh khoản, các ngân hàng bộc phát tăng lãi suất để thu hút tiền gửi, tăng lượng tiền mặt. Vì vậy, cuộc chạy đua lãi suất đã được phanh lại, hình thành mặt bằng lãi suất chung là 12%/năm và sẽ giảm dần. Nhưng các kỳ hạn vẫn còn nơi cao nơi thấp. Dù sao, trước mắt ổn định mặt bằng chung đã là thành công, còn khấp khểnh ở bên trong cần phải có thời gian. Trong kinh tế thị trường, lãi suất như một giá cả, lúc lên lúc xuống, vì hoàn cảnh lạm phát, thị trường đang có vấn đề, nên cần bàn tay can thiệp của Nhà nước. Theo tôi, mức lãi suất 12%/năm đã là dương rồi, tăng trưởng tín dụng 30% cũng không phải là thấp, vẫn bảo đảm được kế hoạch phát triển cho các ngân hàng.

- Đồng chí đánh giá thế nào về hiệu quả của những giải pháp thắt chặt tài chính tiền tệ để kiềm chế lạm phát hiện nay?

- Trước tình trạng lạm phát cao như thế này, theo lý thuyết kinh điển là phải hút ngay tiền về. Quốc gia nào trong tình thế này cũng đều xử lý như vậy và chúng ta đã làm theo phương pháp đó. Phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, tăng dự trữ bắt buộc đều là động tác để hút tiền về, giảm bớt áp lực giữa tiền và hàng. Hay giải pháp nâng lãi suất để hạn chế tăng trưởng tín dụng, có nghĩa là cũng hạn chế nguồn cung tiền. Mặc dù Chính phủ đã nhanh chóng đưa ra các biện pháp kiềm chế lạm phát nhưng không phải nó có thể ngay lập tức mang lại hiệu quả mà cần có thời gian, ít nhất từ nay đến cuối năm.

Cũng cần phải thấy rằng, nếu chỉ đơn phương một mình chính sách tiền tệ thì không thể kiềm chế lạm phát nổi, mà phải có sự tham gia của chính sách tài chính, đầu tư thậm chí cả chính sách thương mại nữa. Cùng kết hợp nhiều chính sách vĩ mô hướng đến mục tiêu kiểm soát lạm phát thì mới có thể đạt hiệu quả mong muốn.

- Khi đưa ra những giải pháp đó, chúng ta có lường trước được các tác động không mong muốn của nó đến nền kinh tế không, thưa đồng chí?

- Nhìn chung các chính sách kiểm soát sự phát triển bao giờ cũng ảnh hưởng đến các đối tượng của nền kinh tế. Các ngân hàng thương mại không thể cho vay thoải mái như ngày xưa, tất nhiên sẽ nảy sinh tâm lý khó chịu khi bị nhà nước kiểm soát, nhưng đó là những hành động cần thiết trong hoàn cảnh này. Nếu không làm nghĩa là chúng ta tự hại mình, bao nhiêu công lao xây dựng đất nước, phát triển kinh tế sẽ bị ngọn lửa lạm phát thiêu rụi.

Trong lúc này cũng không thể cầu toàn được, khó có đòi hỏi một lúc thực hiện cả hai mục tiêu vừa tăng trưởng kinh tế cao, vừa kiềm chế được lạm phát. Nếu từ giờ đến cuối năm, tình hình lạm phát không dịu đi thì tăng trưởng chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng.

Giải pháp trọn gói, thực hiện quyết liệt

- Đồng chí có nói cần kết hợp các chính sách kinh tế, với sự tham gia của nhiều ngành để kiềm chế lạm phát. Vậy có thể đánh giá thế nào về tính đồng bộ trong các giải pháp kiềm chế lạm phát hiện nay?

- Cho đến Công văn 319 của Thủ tướng Chính phủ thì đã là giải pháp trọn gói. Trước kia chỉ chính sách tiền tệ sợ rằng không đủ, bây giờ Chính phủ đã đi một cách toàn diện rồi. Nhưng để có hiệu quả thì khâu thực hiện phải đi liền với chính sách, nếu như tất cả các bộ, các ngành đều có ý chí kiềm chế lạm phát quyết liệt, thậm chí ở địa phương cũng phải có tư duy kiềm chế lạm phát thì Công văn 319 mới có hiệu quả. Ví dụ như Chính phủ quyết định rà soát lại các công trình đầu tư, địa phương cũng phải thực hiện kiên quyết, những dự án nào không hiệu quả, kéo dài, dứt khoát không đưa tiền vào nữa.

Lạm phát đã đi sâu vào mọi ngóc ngách của đời sống, ảnh hưởng sâu rộng tới các tầng lớp người dân, vì thế mà tất cả mọi người đều phải thấy phần trách nhiệm của mình trong đó.

- Trong những nguyên nhân lạm phát, yếu tố từ bên ngoài như giá nhiên liệu thế giới tăng cao, lượng tiền đầu tư nước ngoài chảy vào lớn, trong khi giải ngân chậm… cũng tác động rất lớn. Chúng ta có thể thắt chặt tài chính tiền tệ trong nước, nhưng làm cách nào để hạn chế ảnh hưởng từ bên ngoài, thưa đồng chí?

- Ảnh hưởng của sức ép từ bên ngoài là không thể kiểm soát được, chỉ có thể kiểm soát bên trong thôi. Nhưng nếu chính sách kiềm chế lạm phát thực hiện tốt, mặt bằng giá trong nước ổn định thì tác động bên ngoài không thể cộng hưởng mà sẽ được hạn chế đi. Bên ngoài đã không kiểm soát được mà bên trong cũng bùng lên thì hậu quả sẽ rất khó lường.

Cũng phải nhìn nhận rằng, năm 2007 chưa lúc nào vốn đầu tư nước ngoài vào nhiều như vậy. Khi ngoại tệ đổ vào, chúng ta phải xuất tiền ra để chuyển đổi, càng đưa tiền ra thì lạm phát càng lên. Vì vậy, cần phải giải quyết câu hỏi: Thông qua những chính sách kinh tế vĩ mô nào chúng ta hấp thụ lượng vốn đó như thế nào?

- Những năm 1990 của thế kỷ trước, nước ta cũng từng trải qua cơn bão lạm phát, từng công tác trong ngành ngân hàng khoảng thời gian đó, theo đồng chí kinh nghiệm gì có thể áp dụng được vào thời điểm này?

- Những năm 1990-1991 lạm phát cũng ở mức 2 con số nhưng tình hình thậm tệ hơn bây giờ nhiều. Chính sách tiền tệ lúc đó lại còn đang non trẻ, phải dò từng bước đi. Thành công trong thời gian đó là thực hiện đồng bộ các chính sách tài chính ngân hàng, thương mại, thậm chí kiểm soát cả xuất, nhập khẩu.

Thời điểm này, số lượng ngân hàng nhiều hơn, hệ thống ngân hàng phát triển hơn, thực hiện tự do hóa thương mại do vậy khó có thể sử dụng biện pháp hành chính, cũng như không thể kiểm soát nhập khẩu được, mà phải theo thị trường, do thị trường quyết định, theo quy luật của kinh tế thị trường. Sự điều tiết của Nhà nước chỉ thực hiện ở chính sách kinh tế vĩ mô. Chính vì vậy chúng ta nên tập trung vào thay đổi chính sách kinh tế vĩ mô. Thay đổi theo hướng đúng như lý thuyết đã nêu, nghĩa là càng lạm phát thì càng phải thắt chặt tài chính-tiền tệ, thắt chặt chi tiêu công. Từng giai đoạn một phải đặt ra một mục tiêu, ví dụ năm nay lạm phát chỉ 5%, thì ngân hàng, tài chính và các ngành khác phải theo cái đích đó. Trước nay chúng ta vẫn đặt ra mục tiêu nhưng đến khi thực hiện lại không thống nhất.

Thực tế thì đợt lạm phát lần này đã bắt đầu từ những năm 2003-2004, có năm lạm phát đến 9,6% nhưng lúc đó chính sách tiền tệ của chúng ta chưa làm quyết liệt, còn chậm, nên những gì của thời gian ấy dồn tích đến năm 2007 và đã bục ra. Năm 2006 mọi người cảm thấy đất nước đang đứng trên “đỉnh cao”, chúng ta đã vui vẻ quá trước thành công.

Phải nhìn nhận một kinh nghiệm hết sức quan trọng là: Ngay cả khi thắng lợi cũng phải suy nghĩ cho tương lai, để có được dự báo đúng, từ đó mà đưa ra những quyết định đúng đắn, phù hợp thực tiễn.

- Xin cảm ơn đồng chí!

VIỆT HƯNG PHƯƠNG (thực hiện)

------------------------------------

Bài 2: Bình ổn thị trường bất động sản.