Đây là bước chuyển có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh môi trường an ninh, phát triển đang biến đổi nhanh chóng, các nguy cơ an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen, tác động qua lại và có thể tạo hiệu ứng dây chuyền. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương Tô Lâm nhấn mạnh rằng an ninh không thể chỉ được bảo đảm theo từng lĩnh vực, cũng không thể chỉ xử trí sau khi thiệt hại xảy ra; phải chuyển mạnh từ phản ứng sang dự báo, từ xử lý sự vụ sang chủ động phòng ngừa, đồng thời nâng cao sức chống chịu và khả năng vận hành liên tục của các hệ thống thiết yếu của quốc gia. Đặt trong lĩnh vực quốc phòng, đây chính là sự phát triển ở tầm cao hơn của tư duy bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, không để bị động, bất ngờ; không chỉ chuẩn bị để ứng phó khi nguy cơ đã trở thành hiện thực, mà phải nhận diện, dự báo, ngăn chặn và hóa giải nguy cơ ngay từ khi còn ở dạng tiềm ẩn.

Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, vận dụng bước chuyển này có nghĩa là xây dựng một lực lượng mạnh để chiến đấu khi có chiến tranh, đồng thời đủ năng lực phát hiện sớm, dự báo đúng, chuẩn bị từ trước, phòng ngừa hiệu quả và xử trí thắng lợi mọi tình huống quốc phòng, an ninh, góp phần giữ vững môi trường hòa bình để đất nước phát triển.

Từ “ứng phó” sang “phòng ngừa”: Một bước chuyển về tư duy quốc phòng

Trong điều kiện bình thường, xử trí một nguy cơ sau khi nó xảy ra thường đã phải trả giá bằng nguồn lực, thời gian và đôi khi cả những tổn thất không thể khắc phục. Trong quốc phòng, cái giá của sự bị động có thể còn lớn hơn rất nhiều. Vì vậy, chủ động phòng ngừa phải trở thành một nguyên tắc xuyên suốt trong xây dựng và sử dụng sức mạnh quân sự.

Điểm cốt lõi của bước chuyển thứ tư là thay đổi câu hỏi: Không chỉ hỏi “sẽ xử trí thế nào khi xảy ra tình huống?”, mà phải hỏi trước đó “nguy cơ nào có thể xảy ra, dấu hiệu nào cho thấy nguy cơ đang hình thành, cần làm gì để không cho nguy cơ phát triển thành khủng hoảng?” Đó là chuyển từ tư duy phản ứng sang tư duy dự báo; từ chuẩn bị cho tình huống đã định hình sang chuẩn bị cho nhiều tình huống có thể xuất hiện; từ xử lý từng sự cố sang xây dựng hệ thống có khả năng nhận diện và ngăn chặn rủi ro.

Các nữ quân nhân Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 3 trước giờ lên đường thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc ở Nam Sudan, ngày 24-3-2021. Ảnh minh họa:qdnd.vn  

Với Quân đội, yêu cầu này trước hết đặt lên vai trò của công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược. Các cơ quan tham mưu luôn theo dõi sát, phân tích đúng và dự báo kịp thời những biến động liên quan trực tiếp đến quốc phòng, an ninh; nhận diện từ sớm những nhân tố có thể tác động đến chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc. Nhưng, dự báo chỉ có giá trị khi được chuyển hóa thành hành động. Vì vậy, phải hình thành cơ chế từ dự báo - cảnh báo - tham mưu - quyết định - chuẩn bị lực lượng - xử trí tình huống, bảo đảm không có khoảng trống giữa nhận thức nguy cơ và hành động phòng ngừa. Đây chính là biểu hiện cụ thể của năng lực hành động quốc gia và cũng là một tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng xây dựng Quân đội.

Sức chống chịu phải trở thành một thuộc tính của Quân đội. Một hệ thống có sức chống chịu cao không phải là hệ thống không bao giờ gặp nguy cơ, mà là hệ thống có khả năng chịu đựng tác động, duy trì hoạt động cốt lõi, nhanh chóng phục hồi và thích ứng sau biến động. Đối với Quân đội, sức chống chịu trước hết thể hiện ở khả năng duy trì sức mạnh chiến đấu trong điều kiện khó khăn, phức tạp; bảo đảm chỉ huy không bị gián đoạn; thông tin không bị tê liệt; lực lượng có khả năng cơ động; hậu cần, kỹ thuật có khả năng bảo đảm liên tục; con người có bản lĩnh, ý chí và năng lực xử trí tình huống. Điều đó đòi hỏi Quân đội luôn có năng lực dự phòng và khả năng chuyển trạng thái cao. Huấn luyện phải tính đến điều kiện thông tin bị gián đoạn, địa bàn bị chia cắt, thời tiết cực đoan, cơ sở hạ tầng bị tổn hại, hệ thống công nghệ bị tấn công, nguồn bảo đảm bị hạn chế hoặc xuất hiện đồng thời nhiều tình huống phức tạp. Sức chống chịu vì vậy phải được hình thành ngay trong tổ chức, huấn luyện, diễn tập và bảo đảm chiến đấu. Một đơn vị mạnh không chỉ là đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ trong điều kiện bình thường, mà còn phải giữ được khả năng chiến đấu khi điều kiện thay đổi.

Xây dựng năng lực thích ứng với chiến tranh hiện đại. Nếu “chống chịu” giúp Quân đội đứng vững trước tác động thì “thích ứng” giúp Quân đội thay đổi để tiếp tục giành và giữ thế chủ động. Chiến tranh hiện đại đang biến đổi nhanh về không gian, phương thức và công nghệ. Không gian tác chiến không chỉ giới hạn trên bộ, trên biển, trên không mà còn mở rộng mạnh vào không gian mạng, không gian điện từ và các lĩnh vực công nghệ mới. Trí tuệ nhân tạo, phương tiện không người lái, dữ liệu lớn, tác chiến điện tử, vũ khí chính xác và hệ thống tự động hóa đang làm thay đổi cách thức tiến hành chiến tranh. Trong môi trường ấy, một lực lượng không có khả năng thích ứng sẽ nhanh chóng mất lợi thế. Vì vậy, xây dựng Quân đội hiện nay phải đồng thời xây dựng năng lực học hỏi, đổi mới và thích ứng liên tục.

Điều đó đòi hỏi đổi mới mạnh mẽ giáo dục, đào tạo và huấn luyện cho bộ đội phương án cố định và nâng cao khả năng xử trí những tình huống biến đổi, bất ngờ; tăng cường huấn luyện theo tình huống; huấn luyện hiệp đồng; huấn luyện trong môi trường công nghệ cao; sử dụng mô phỏng và dữ liệu để tạo ra những tình huống sát thực tế. Đồng thời, cán bộ phải được rèn luyện tư duy linh hoạt, khả năng quyết đoán và năng lực tổ chức trong điều kiện thiếu thông tin hoặc thông tin biến động nhanh. Thích ứng không có nghĩa là thay đổi nguyên tắc; thích ứng là giữ vững mục tiêu chiến lược, nhưng linh hoạt về phương thức, cách thức và biện pháp thực hiện.

Không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, yêu cầu “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” trước hết phải được cụ thể hóa bằng năng lực nắm chắc tình hình và xử trí từ khi nguy cơ còn ở ngoài biên giới. Trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, các vấn đề quốc phòng không còn chỉ phát sinh từ những hoạt động quân sự trực tiếp. Một biến động địa chính trị, một cuộc khủng hoảng kinh tế, một sự cố trên biển, một cuộc tấn công mạng quy mô lớn, một hoạt động gây nhiễu thông tin hay một thảm họa tự nhiên đều có thể tác động đến an ninh quốc gia. Do đó, năng lực bảo vệ Tổ quốc phải được xây dựng theo hướng nhận diện nguy cơ đa chiều và liên ngành.

Quân đội cần tăng cường phối hợp với Công an, đối ngoại và các bộ, ngành liên quan; chia sẻ thông tin, đánh giá tình hình và thống nhất phương án xử trí. Sự phối hợp ấy phải được tiến hành không chỉ khi tình huống xảy ra mà ngay từ thời bình, qua các cơ chế thường xuyên và diễn tập. Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa vì vậy không chỉ là yêu cầu về khoảng cách địa lý mà còn là yêu cầu về thời gian chiến lược: Phải phát hiện và hành động trước khi nguy cơ vượt qua ngưỡng có thể kiểm soát.

Xây dựng Quân đội có khả năng bảo vệ trong mọi không gian. Bước chuyển thứ tư cũng đặt ra yêu cầu mở rộng tư duy về không gian bảo vệ. Bảo vệ vững chắc Tổ quốc hiện nay không chỉ là bảo vệ biên giới, biển, đảo, vùng trời, mà còn phải bảo vệ an ninh dữ liệu, an toàn hạ tầng trọng yếu và khả năng vận hành liên tục của những hệ thống thiết yếu. Đây cũng là những nội dung được nhấn mạnh trong phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương Tô Lâm. Điều này đòi hỏi Quân đội tiếp tục xây dựng năng lực tác chiến và phòng thủ trong những lĩnh vực mới, đồng thời nâng cao khả năng phối hợp giữa các lực lượng. Đặc biệt, quan tâm xây dựng năng lực bảo vệ hệ thống thông tin, dữ liệu và hạ tầng số phục vụ quốc phòng. Trong môi trường chiến tranh hiện đại, làm gián đoạn hệ thống chỉ huy, thông tin và dữ liệu có thể tạo ra tác động rất lớn mà không nhất thiết phải sử dụng phương thức tấn công truyền thống. Vì vậy, khả năng duy trì hoạt động của hệ thống chỉ huy, thông tin và bảo đảm phải trở thành một thành tố quan trọng của sức mạnh quốc phòng.

Xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh gắn với sức chống chịu cao. Quá trình xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại đặt trong yêu cầu nâng cao sức chống chịu và khả năng thích ứng. Xây dựng Quân đội hiện đại là yêu cầu chiến lược trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Tinh, gọn về tổ chức, tạo ra một lực lượng cơ động hơn, linh hoạt hơn, phản ứng nhanh hơn và có khả năng duy trì sức mạnh trong điều kiện phức tạp hơn. Điều này đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện tổ chức lực lượng theo hướng hợp lý, cân đối giữa lực lượng thường trực và lực lượng dự bị; giữa các lực lượng tác chiến và bảo đảm; giữa khả năng chiến đấu trực tiếp với năng lực phòng thủ, bảo vệ những không gian mới. Đặc biệt, xây dựng năng lực dự phòng chiến lược. Trong những tình huống phức tạp, không thể chỉ dựa vào năng lực hiện có mà cần có khả năng bổ sung lực lượng, vật chất, phương tiện và nhân lực chuyên môn khi cần thiết. Một Quân đội có sức chống chịu cao phải có chiều sâu chiến lược, chứ không chỉ có sức mạnh tức thời.

Khoa học - công nghệ làm công cụ nâng cao năng lực phòng ngừa. Chủ động phòng ngừa trong thời đại số không thể tách rời khoa học - công nghệ. Công nghệ có thể hỗ trợ thu thập, tổng hợp và phân tích khối lượng lớn dữ liệu; phát hiện những dấu hiệu bất thường; nâng cao khả năng cảnh báo sớm; mô phỏng các kịch bản; hỗ trợ chỉ huy và ra quyết định. Do đó, chuyển đổi số trong Quân đội không chỉ dưới góc độ cải cách hành chính mà trở thành một phương thức nâng cao năng lực nắm tình hình, chỉ huy, quản lý và bảo đảm chiến đấu. Cùng với đó, phát triển các hệ thống dự phòng, bảo đảm an toàn dữ liệu, khả năng khôi phục hệ thống và khả năng hoạt động trong điều kiện bị tác động mạnh. Công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi có con người đủ trình độ làm chủ. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tiếp tục là khâu then chốt. Xây dựng đội ngũ cán bộ, chuyên gia có năng lực dự báo, phân tích dữ liệu, nghiên cứu chiến lược, công nghệ quân sự và quản trị rủi ro.

Phòng ngừa bắt đầu từ xây dựng thế trận lòng dân. Sức chống chịu của quốc phòng không tách rời sức chống chịu của quốc gia và xã hội. Một quốc gia có thế trận lòng dân vững chắc sẽ có khả năng chống chịu tốt hơn trước những cú sốc, khủng hoảng và hoạt động chống phá. Vì vậy, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại gắn với xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh; tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt quân - dân; phát huy vai trò của nhân dân trong cung cấp thông tin, tham gia phòng thủ dân sự, phòng chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn và bảo vệ địa bàn.

Người dân tham quan gian trưng bày của Công nghiệp Quốc phòng Việt Nam tại Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam 2024. Ảnh: TRUNG THÀNH

Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục phát huy tốt chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất, nhất là trong những tình huống thiên tai, thảm họa, dịch bệnh và các sự cố lớn. Qua đó, không chỉ trực tiếp giảm thiểu thiệt hại mà còn củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực tiễn cho thấy, khi Quân đội có mặt ở những nơi khó khăn nhất, nguy hiểm nhất, sức mạnh quân sự được chuyển hóa thành sức mạnh xã hội; thế trận lòng dân trở thành một nguồn lực đặc biệt để đất nước chống chịu trước mọi thử thách.

Chủ động phòng ngừa phải gắn với đối ngoại quốc phòng. Một nội dung quan trọng là kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh với đối ngoại và hội nhập quốc tế. Đây cũng là yêu cầu được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương Tô Lâm nhấn mạnh trong bước chuyển thứ tư. Đối ngoại quốc phòng có vai trò quan trọng trong xây dựng lòng tin, giảm nguy cơ hiểu lầm, thúc đẩy hợp tác, xử trí bất đồng bằng biện pháp hòa bình và tạo dựng môi trường chiến lược thuận lợi cho đất nước. Vì vậy, chủ động phòng ngừa không chỉ là chuẩn bị sức mạnh quân sự để ứng phó; đồng thời, sử dụng sức mạnh tổng hợp để ngăn ngừa xung đột, giảm thiểu nguy cơ xung đột và giữ vững môi trường hòa bình. Đó là sự kết hợp giữa “sức mạnh cứng” và “sức mạnh mềm”, giữa xây dựng Quân đội mạnh với xây dựng thế và lực quốc gia.

Từ “không để bị động” đến “luôn ở thế chủ động”. Điểm sâu sắc nhất của bước chuyển chiến lược thứ tư đặt ra yêu cầu Quân đội “không để bị động, bất ngờ”, mà cao hơn là phải luôn ở thế chủ động. Chủ động không đơn thuần là có lực lượng mạnh. Chủ động là có khả năng nhìn trước, chuẩn bị trước, bố trí trước; có phương án trước, luyện tập trước, dự phòng trước và hành động đúng lúc. Đó là một chu trình liên tục: Từ nhận diện nguy cơ - dự báo - cảnh báo - phòng ngừa - chuẩn bị - thích ứng - xử trí - phục hồi - rút kinh nghiệm - nâng cao khả năng chống chịu. Chu trình này được vận hành thông suốt, Quân đội sẽ không chỉ phản ứng trước tình huống mà có khả năng định hình, kiểm soát và làm chủ tình hình, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi điều kiện. Đây chính là sự phát triển mới của tư duy “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”.

Biến sức chống chịu thành sức mạnh bảo vệ Tổ quốc

Bốn bước chuyển chiến lược mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương Tô Lâm nêu ra tạo thành một chỉnh thể hữu cơ: Tổ chức và con người tạo năng lực hành động; không gian và thể chế khơi thông nguồn lực; mô hình phát triển chuyển nguồn lực thành năng suất, của cải và chất lượng sống; năng lực phòng ngừa và bảo vệ giữ cho quá trình ấy an toàn, liên tục và bền vững. Vì vậy, bước chuyển thứ tư không đứng tách rời ba bước chuyển trước, mà là điều kiện bảo đảm để các bước chuyển ấy phát huy hiệu quả.

Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, vận dụng bước chuyển thứ tư, cần tập trung vào một số yêu cầu cốt lõi: Nâng cao năng lực dự báo chiến lược; xây dựng cơ chế cảnh báo sớm; tổ chức lực lượng có khả năng chuyển trạng thái nhanh; nâng cao sức chống chịu của hệ thống chỉ huy, thông tin, hậu cần, kỹ thuật; đổi mới huấn luyện theo hướng thích ứng với chiến tranh hiện đại; phát triển khoa học - công nghệ và chuyển đổi số; xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận lòng dân; kết hợp chặt chẽ quốc phòng với an ninh, đối ngoại và phát triển đất nước. Xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại tạo ra sức mạnh chiến đấu cao, năng lực phòng ngừa, sức chống chịu và khả năng thích ứng cao trước những biến động ngày càng phức tạp.

Bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới không chỉ là đánh thắng khi chiến tranh xảy ra, mà còn là không để chiến tranh xảy ra; không để nguy cơ phát triển thành khủng hoảng; không để khủng hoảng làm gián đoạn sự phát triển; không để bất kỳ tình huống nào đẩy đất nước vào thế bị động. Chủ động phòng ngừa để không bị bất ngờ; nâng cao sức chống chịu để không bị khuất phục; tăng cường khả năng thích ứng để luôn giữ thế chủ động. Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hiện thực hóa mục tiêu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi để đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.