Tham mưu tổ chức chiến tranh nhân dân trên phạm vi cả nước

Sau Hiệp định Geneva năm 1954, đất nước tạm thời chia làm hai miền. Miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, trở thành hậu phương lớn; miền Nam tiếp tục đấu tranh giải phóng dân tộc. Cách mạng Việt Nam phải đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ hữu cơ: Xây dựng, bảo vệ miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong bối cảnh đó, BTTM đứng trước yêu cầu vừa tham mưu xây dựng Quân đội chính quy, từng bước hiện đại ở miền Bắc, vừa chuẩn bị lực lượng, phương án, thế trận cho chiến trường miền Nam, đồng thời sẵn sàng đối phó với nguy cơ chiến tranh mở rộng.

 Đại tướng Võ Nguyên Giáp thông báo diễn biến Chiến dịch Hồ Chí Minh cho cán bộ chủ chốt Bộ Tổng Tham mưu, năm 1975. Ảnh tư liệu.

Trên cơ sở đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, BTTM tham gia xây dựng kế hoạch phát triển lực lượng, tổ chức biên chế, huấn luyện; từng bước củng cố các quân chủng, binh chủng, lực lượng dự bị và nâng cao trình độ tác chiến hiệp đồng. Công tác xây dựng Quân đội được đặt trong tổng thể xây dựng nền quốc phòng toàn dân, gắn lực lượng thường trực với bộ đội địa phương, dân quân tự vệ; gắn hậu phương với tiền tuyến. Nhờ đó, tiềm lực đất nước từng bước được tổ chức thành sức mạnh quân sự, đáp ứng yêu cầu của cuộc chiến tranh ngày càng mở rộng.

Nét nổi bật trong công tác tham mưu là chủ động nghiên cứu, dự báo và chuẩn bị chiến lược. Kết quả trên chiến trường không chỉ được quyết định trong từng trận đánh mà còn được tạo dựng qua quá trình xây dựng lực lượng, bố trí thế trận, huấn luyện cán bộ, chuẩn bị bảo đảm và hệ thống giao thông, căn cứ. BTTM đã góp phần xây dựng các lực lượng phòng không-không quân, hải quân, pháo binh, công binh, thông tin, vận tải; tổ chức thế trận phòng thủ miền Bắc, mạng lưới phòng không, bảo vệ mục tiêu trọng yếu, giao thông vận tải và các cơ sở kinh tế, quân sự. Sự chuẩn bị từ sớm tạo cơ sở để miền Bắc vừa sản xuất, vừa chiến đấu, vừa làm tròn vai trò hậu phương chiến lược.

Cùng với xây dựng và bảo vệ hậu phương, chi viện sức người, sức của cho miền Nam là nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt. BTTM tham gia tổ chức lực lượng, kế hoạch hành quân, vận chuyển, bổ sung quân số và phối hợp trên tuyến chi viện chiến lược. Trên đường Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh, hệ thống chỉ huy, bảo đảm và hiệp đồng phải đáp ứng yêu cầu về quy mô, tốc độ, bí mật, an toàn trong điều kiện địch đánh phá quyết liệt, địa hình hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt. Chi viện vì thế trở thành một bộ phận của nghệ thuật chiến tranh nhân dân, chuyển hóa tiềm lực miền Bắc thành sức mạnh trực tiếp trên chiến trường.

Tạo thế, tạo lực, nắm thời cơ chiến lược

Khi Mỹ từng bước leo thang, đưa quân viễn chinh và lực lượng đồng minh trực tiếp tham chiến ở miền Nam, đồng thời tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, công tác tham mưu chiến lược phải giải quyết những vấn đề ngày càng phức tạp. BTTM thường xuyên nghiên cứu âm mưu, thủ đoạn, tổ chức lực lượng và phương thức tác chiến của đối phương; đánh giá đúng tương quan địch-ta, đề xuất cách đánh phù hợp với khả năng của ta và điều kiện từng chiến trường. Từ thực tiễn chiến đấu, nghệ thuật kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn; chiến tranh du kích với tác chiến chủ lực; tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng; hoạt động tại chỗ với phối hợp trên các hướng chiến lược ngày càng hoàn thiện.

Giá trị của công tác tham mưu không chỉ ở việc chuẩn bị, chỉ đạo từng trận đánh, chiến dịch, mà còn ở khả năng tạo thế trên toàn cục. Hoạt động trên nhiều chiến trường buộc đối phương phân tán lực lượng và dần lâm vào thế bị động. Qua từng giai đoạn, lực lượng vũ trang ta trưởng thành về tổ chức, chỉ huy, tác chiến hiệp đồng và năng lực thực hiện nhiệm vụ chiến lược; từng bước làm thất bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn, tạo tiền đề đưa cuộc kháng chiến phát triển.

Trên miền Bắc, cuộc đối đầu với chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân đặt ra thử thách đặc biệt. Trước đối phương có ưu thế lớn về máy bay, tên lửa, bom đạn, phương tiện trinh sát và công nghệ, BTTM cùng các lực lượng nghiên cứu cách đánh, xây dựng lực lượng phòng không-không quân, tổ chức thế trận phòng không nhân dân, mạng lưới cảnh giới, thông tin và hiệp đồng chiến đấu. Những thắng lợi trong chống chiến tranh phá hoại, đỉnh cao là Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972, thể hiện khả năng phát huy sức mạnh tổng hợp của nhiều lực lượng, nhiều phương thức tác chiến để hạn chế ưu thế kỹ thuật của đối phương. Đây là cuộc đấu không chỉ bằng vũ khí mà bằng cả trí tuệ, thế trận và nghệ thuật tổ chức lực lượng.

Năng lực tạo thế, tạo lực gắn liền với khả năng phát hiện, nắm bắt thời cơ. Thời cơ chiến lược không tự nhiên xuất hiện mà được tạo nên bởi quá trình liên tục tiến công, làm thay đổi so sánh lực lượng và thế trận. Đầu năm 1975, sau những chuyển biến căn bản của tình hình, thắng lợi của các chiến dịch Tây Nguyên, Trị-Thiên-Huế và Đà Nẵng làm thời cơ phát triển rất nhanh. BTTM tích cực nghiên cứu, đánh giá tình hình, tổ chức và điều chỉnh lực lượng, kế hoạch, bảo đảm cho các chiến dịch liên tiếp phát triển với tốc độ cao.

Đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh, chiến dịch quyết chiến chiến lược kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến. Trí tuệ tham mưu thể hiện trong chuẩn bị kế hoạch, theo dõi diễn biến, kịp thời điều chỉnh và chuyển hóa thắng lợi từng chiến trường thành thắng lợi trên toàn cục. Đó là sự thống nhất giữa yêu cầu đánh chắc thắng với hành động thần tốc, táo bạo khi thời cơ xuất hiện; giữa quyết tâm chiến lược với năng lực tổ chức lực lượng, điều hành tác chiến, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Nhìn trên toàn bộ tiến trình, dấu ấn của BTTM thể hiện ở khả năng tham mưu, tổ chức sự kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh nhân dân và tác chiến chính quy; lực lượng địa phương và lực lượng chủ lực; hậu phương miền Bắc và chiến trường miền Nam; đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao; tác chiến tại chỗ và cơ động chiến lược; kiên trì đánh lâu dài và tranh thủ thời cơ kết thúc chiến tranh. Sự kết hợp ấy tạo nên sức mạnh tổng hợp, làm cho ưu thế về kinh tế, quân sự và công nghệ của đối phương không thể chuyển thành thắng lợi. Với chức năng cơ quan tham mưu chiến lược, BTTM đã góp phần chuyển đường lối, quyết tâm chiến lược thành kế hoạch, thế trận và hành động trên chiến trường.

Bài học về công tác tham mưu trong giai đoạn mới

Thực tiễn kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trước hết khẳng định tham mưu chiến lược phải đi trước một bước. Yêu cầu cốt lõi không chỉ là xử lý đúng những vấn đề đang diễn ra mà còn phải dự báo tình huống có thể xuất hiện, chuẩn bị phương án, lực lượng và thế trận phù hợp. Muốn vậy, cơ quan tham mưu phải nắm chắc đối phương, khả năng của ta, địa bàn và thời cơ; đặt các yếu tố quân sự trong quan hệ tổng thể với chính trị, kinh tế, ngoại giao, khoa học-công nghệ và không gian thông tin. Nghiên cứu, dự báo đúng là tiền đề để tránh bị động, bất ngờ và chủ động lựa chọn cách ứng phó hiệu quả.

Bài học tiếp theo là xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc, phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước. Sức mạnh bộ đội chủ lực chỉ phát huy đầy đủ khi gắn với lực lượng tại chỗ, hậu phương chiến lược và "thế trận lòng dân". Trong điều kiện mới, công tác tham mưu phải kết hợp sức mạnh quân sự với tiềm lực chính trị, kinh tế, văn hóa, đối ngoại; kết hợp xây dựng lực lượng với chuẩn bị thế trận, sẵn sàng chuyển hóa tiềm lực thành sức mạnh bảo vệ Tổ quốc.

Khoa học-công nghệ, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và năng lực xử lý dữ liệu mở ra những điều kiện mới cho nghiên cứu, dự báo, chỉ huy, điều hành. Tuy nhiên, bài học lịch sử cho thấy không thể tuyệt đối hóa công nghệ. Công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi được đặt trong một tổ chức phù hợp, do con người có bản lĩnh chính trị, tư duy chiến lược và năng lực quyết đoán làm chủ. Vì vậy, cùng với đầu tư phương tiện, phải đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ tham mưu có kiến thức toàn diện, phương pháp làm việc khoa học, nhạy bén trước biến động và sát thực tiễn.

Xuyên suốt mọi nhiệm vụ là giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, bảo đảm hoạt động tham mưu quân sự, quốc phòng luôn phục vụ mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, BTTM đã góp phần quan trọng vào xây dựng lực lượng, tổ chức thế trận, bảo vệ miền Bắc, chi viện chiến trường, chỉ đạo tác chiến và nắm bắt thời cơ chiến lược. Di sản ấy tiếp tục đặt ra yêu cầu phải nhìn rộng, thấy xa, chuẩn bị sớm, tham mưu đúng và tổ chức thực hiện quyết liệt, để sức mạnh của Quân đội và đất nước được quy tụ, sử dụng đúng hướng, đúng thời điểm, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.