Quán triệt phương châm tác chiến chiến dịch là đánh địch ngoài công sự, tập trung đánh phía trước, bên sườn và phía sau, nhất là nhử địch vào sâu để tiêu diệt, Bộ tư lệnh chiến dịch xác định khu vực tác chiến chủ yếu ở phía Tây đồn Plây Gi-răng, chia thành 4 khu: A, B ở bờ Đông sông Sa Thầy; C, D ở bờ Tây sông Sa Thầy. Trong đó, khu C và D thuộc xã Mô Rai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum (nay là xã Mô Rai, tỉnh Quảng Ngãi) được chọn làm khu quyết chiến. Địa hình đồi núi hiểm trở, rừng rậm, nhiều khe suối, thuận lợi cho ta bí mật cơ động, xây dựng trận địa, phát huy sở trường tác chiến, đồng thời hạn chế khả năng phát huy ưu thế binh khí, kỹ thuật của quân Mỹ.
Để tạo thế cho trận then chốt, Bộ tư lệnh chiến dịch chủ trương đánh khêu ngòi, kết hợp nghi binh, lừa dụ địch. Sáng 18-10-1966, sau khi bao vây, pháo kích đồn Plây Gi-răng, ta tổ chức bắc hai cầu treo giả qua sông Pô Cô, rải dây thông tin dọc bờ Tây sông, tạo khói lửa giả. Những hoạt động này khiến tình báo Mỹ phán đoán chủ lực ta chuẩn bị tiến công từ phía sau. Sư đoàn 4 Mỹ lập tức mở cuộc hành quân “Pôn Ri-vơ 4”, đưa một số đơn vị thuộc Lữ đoàn 2 đổ bộ xuống khu vực Chư Bai, cách Plây Gi-răng khoảng 12km về phía Tây Bắc.
 |
| Sơ đồ đánh các trận then chốt trong Chiến dịch Sa Thầy (năm 1966). Ảnh tư liệu |
Chưa phải thời cơ và địa bàn quyết chiến, ta chỉ sử dụng lực lượng nhỏ đánh một số trận vừa và nhỏ, kết hợp nghi binh, làm thất bại ý đồ luồn rừng, vu hồi sâu vào phía sau đội hình ta của địch. Các mũi tiến công của quân Mỹ buộc phải cụm lại ở Đất Đỏ, điểm cao 621 (khu B) và điểm cao 398, mỗi nơi khoảng một tiểu đoàn.
Nhận thấy địch phản ứng đúng dự kiến, Bộ tư lệnh chiến dịch điều Trung đoàn 320 trở lại khu B, sử dụng một bộ phận lực lượng thu hút địch ra bờ sông Sa Thầy; đồng thời cho công binh bắc cầu giả qua sông, tiếp tục nghi binh, dụ địch tiến sâu vào khu C và D. Trước những động thái này, quân Mỹ vội vã đưa lực lượng sục sạo hai bên bờ sông, sử dụng pháo binh, kể cả máy bay B-52 đánh phá phía Tây sông Sa Thầy.
Ngày 10-11-1966, một tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn 3, Sư đoàn 25 Mỹ cùng một đại đội pháo binh và một đại đội biệt kích đổ bộ xuống bãi D10 (khu D). Ngày 11-11, Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn 2, Sư đoàn 4 Mỹ cùng một đại đội biệt kích, một đại đội pháo 105mm và một đại đội cối 106,7mm đổ bộ xuống bãi C1, điểm cao 289 (khu C). Như vậy, bằng hoạt động nghi binh, khêu ngòi có chủ đích, ta đã từng bước đưa các đơn vị Mỹ vào đúng khu vực quyết chiến được lựa chọn và chuẩn bị sẵn.
Khi các tiểu đoàn Mỹ vừa đổ bộ, chưa kịp triển khai đội hình “tìm và diệt”, đêm 11 rạng sáng 12-11-1966, pháo binh ta tập trung hỏa lực đánh vào bãi C1, tiêu diệt sở chỉ huy tiểu đoàn, các trận địa pháo và khu vực trú quân của địch. Cùng thời điểm, Trung đoàn 88 và Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 66) tiến công địch tại đây, sau đó phát triển đánh vào khu vực phía Nam điểm cao 289, Nam bãi C1 và phía Tây khu D.
Trước sức tiến công của ta, ngày 16-11, địch điều Lữ đoàn 2, Sư đoàn Kỵ binh bay số 1 từ Bình Định, Phú Yên lên Tây Nguyên tăng viện cho Sư đoàn 4. Ngày 20 và 21-11, các Trung đoàn 320, 66, 95 của ta tập kích những cụm quân địch ở bờ Đông sông Sa Thầy, phát triển tiến công, đánh tan tuyến phòng ngự của Sư đoàn 4 Mỹ ở bờ Đông sông Pô Cô. Ngày 22-11, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 66 tiến công quân Mỹ ở phía Tây khu D. Bị đánh thiệt hại nặng, địch phải co cụm tại điểm cao 300 (khu C) và điểm cao 346 (khu D) để phòng thủ. Để củng cố lực lượng, chuẩn bị cho những trận đánh tiếp theo, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định kết thúc chiến đấu. Thắng lợi trận then chốt ở hai khu C và D góp phần quan trọng vào thắng lợi của Chiến dịch Sa Thầy.
Điểm nổi bật trong trận đánh là ta vừa nghi binh để che giấu ý định, vừa chủ động hành động lừa địch. Từ bao vây, pháo kích đồn Plây Gi-răng đến bắc cầu giả, rải dây thông tin, tạo khói lửa giả và tổ chức các trận đánh quy mô vừa và nhỏ, các hoạt động đều được tính toán nhằm kích thích phản ứng, dẫn dắt từng bước cơ động của quân Mỹ. Khi địch tiến vào khu quyết chiến, ta kết hợp hệ thống chốt với vận động tiến công từ đại đội, tiểu đoàn đến trung đoàn, hình thành thế trận có chiều sâu, tiêu diệt từng bộ phận địch khi chúng cơ động đường bộ hoặc đổ bộ đường không.
Thành công của ta bắt nguồn từ việc nắm chắc quy luật hoạt động, thủ đoạn tác chiến của địch; lựa chọn đúng địa bàn, thời cơ; tổ chức nghi binh linh hoạt, gắn chặt với thế trận và cách đánh thực tế. Những kinh nghiệm này vẫn có ý nghĩa thiết thực trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, nhất là khi chiến tranh hiện đại phát triển mạnh với sự tham gia của vũ khí công nghệ cao, phương tiện trinh sát không người lái, vệ tinh, ra-đa và tác chiến điện tử. Nghi binh phải được nghiên cứu, phát triển phù hợp với môi trường tác chiến đa miền; kết hợp chặt chẽ giữa ngụy trang, nghi binh truyền thống với các giải pháp kỹ thuật, công nghệ, bảo đảm an toàn thông tin và an ninh mạng. Cùng với đó, nâng cao năng lực tạo lập thế trận, bảo vệ mục tiêu, tổ chức lực lượng cơ động linh hoạt. Đặc biệt, trước đối phương có ưu thế về trinh sát, hỏa lực chính xác và khả năng tiến công tầm xa, việc phát huy nghệ thuật nghi binh cần gắn với xây dựng thế trận phòng thủ vững chắc, khai thác hiệu quả địa hình, địa vật và khả năng tác chiến độc lập, hiệp đồng của các lực lượng...