Vào tháng 9-1972, Trung đoàn 52, Sư đoàn 2, Quân khu 5 có nhiệm vụ tiêu diệt địch và giải phóng huyện Ba Tơ (Quảng Ngãi). Ông Kỷ lúc đó là chiến sĩ Đại đội 2, Tiểu đoàn 7. Đơn vị của ông được giao nhiệm vụ tiến công, tiêu diệt căn cứ Đá Bàn do Tiểu đoàn 69, biệt động quân biên phòng của địch chiếm giữ; vừa hỗ trợ bảo vệ trung tâm huyện lỵ, vừa án ngữ địa bàn trọng yếu khu vực huyện Ba Tơ.

leftcenterrightdel
Thiếu tướng Nguyễn Nhật Kỷ kể về trận đánh căn cứ Đá Bàn trên bản đồ. 

Căn cứ Đá Bàn ở ngã ba sông Vệ, sông Liên và sông Trà Nô. Căn cứ này được địch xây dựng từ năm 1965, rất kiên cố, có hầm ngầm, lô cốt bê tông cốt thép, hệ thống hầm hào liên kết chặt chẽ, được bao bọc bởi hơn chục lớp rào kẽm gai, mìn, vật cản; mỗi lớp thành từng bãi rộng từ 10 đến 20mm. Đã mấy lần quân ta tiến công căn cứ Đá Bàn nhưng không dứt điểm được.

Chiều 15-9-1972, Tiểu đoàn 7 hành quân tiếp cận mục tiêu. Do vào mùa mưa lũ nên chỉ có Đại đội 2 vượt sông vào vị trí tập kết ở bản Đá Bàn (sát căn cứ Đá Bàn). Các đại đội khác phải đợi hết lũ mới vượt sông. Trong ngày 16 và đêm 17-9, Tiểu đoàn 7 triển khai đội hình tiếp nhận chốt giữ các địa bàn ở phía Tây và phía Nam căn cứ biệt kích Đá Bàn và bản Đá Bàn.

Các vị trí chốt này đều trực diện áp sát với địch từ vài chục mét (qua cửa mở) đến vài trăm mét. Ông Kỷ được giao khẩu B40 cùng 4 quả đạn và ở cùng hầm với anh Việt là chính trị viên đại đội. Đây là hầm cũ của đồng bào, loại hầm thùng, rộng và sâu bằng đầu người. Vậy nên, ông Kỷ và anh Việt lấy mấy khúc gỗ bắc chéo từ đáy hầm làm chỗ đứng quan sát và có thể đứng bắn được.

Thoáng trầm ngâm, ông Kỷ kể tiếp: "Tầm giữa sáng 18-9, bất thình lình cả bản Đá Bàn nơi chúng tôi chiếm lĩnh chìm trong tiếng nổ liên hồi, nhức óc, khói bụi bay mù mịt, trong chốc lát, nhà sàn, cây cối đổ tan hoang. Sau chừng 5-10 phút thì ngớt dần tiếng nổ lớn, chỉ còn tiếng nổ nhỏ thưa dần của đạn cối và phóng lựu. Anh Việt bảo tôi chú ý quan sát, bộ binh địch sẽ tới. Tôi và anh Việt đứng lên cây gỗ bắc chéo ngang hầm, quan sát thấy có mấy chục tên địch, súng lăm lăm từ trong căn cứ biệt kích Đá Bàn lăm le tiến ra.

Khi toán địch đi đầu đã qua đường băng sân bay, bắt đầu lóp ngóp leo lên mép bản, toàn đơn vị bất ngờ nổ súng đánh trả. Thấy một tốp chừng 4-5 tên đang hò hét, chửi tục, anh Việt chỉ và lệnh cho tôi bắn tiêu diệt. Tôi hướng nòng súng B40 về phía địch và bóp cò. Đoàng, tiếng đạn nổ và mấy tên địch chới với trong khói bụi. Nhưng khi tôi bắn quả đạn B40 bay đi, luồng lửa từ ống phóng phụt ra phía sau làm cháy mái tranh của căn nhà đã đổ sập sát hầm chúng tôi. Vậy là chúng tôi trở thành mục tiêu cho các loại đạn, nhất là đạn cối, đạn phóng lựu của địch. Bỗng nhiên, một tiếng nổ đinh tai nhức óc vang lên từ phía sau sát mép hầm.

Anh Việt bỗng từ từ đổ gục xuống, tôi thì vừa choáng váng, vừa thấy ngực đau tức. Sờ qua sau lưng thấy có máu. Tôi gọi anh Việt, không thấy anh trả lời, cũng không thấy anh động đậy gì. Không có thời gian để suy nghĩ, tôi cố sức cầm khẩu AK của anh Việt nhoi lên bắn điểm xạ liên tục về phía địch. Quân địch bị Tiểu đoàn 7 đánh trả quyết liệt, tổn thất nhiều, chúng hoảng loạn rút về căn cứ. Lúc này, tôi thấy ngực càng tức và khó thở hơn. Tôi quay xuống đưa tay lên mũi anh Việt thấy không còn thở, phía sau lưng anh, áo rách tơi rả, ướt sũng máu.

Tiếng pháo ngớt, chiến sĩ liên lạc của Đại đội trưởng Đỗ Quang Nam cơ động đến tìm anh Việt. Tôi trả lời: “Anh Việt đã hy sinh rồi”. Chiến sĩ liên lạc hỏi tôi có sao không? Tôi nói tôi bị thương ở lưng, máu chảy ra rất nhiều, tức ngực lắm! “Để em sang báo với đại đội cử người thay chỗ các anh, đưa anh Việt và anh về phía sau”, chiến sĩ liên lạc nói rồi nhanh chóng di chuyển sang vị trí khác. Còn tôi ngồi tựa lưng vào thành hầm, cố gắng lấy hơi thở sâu một cách khó nhọc. Lúc sau, y tá Thuật đến băng bó cho tôi rồi cõng anh Việt đi trước, tôi cố gắng bước khó nhọc đi theo anh Thuật. Sau đó tôi được chuyển về trạm phẫu của trung đoàn để điều trị".

Vài ngày sau, ông Kỷ được đưa về đơn vị tiếp tục chiến đấu. Vừa về đến nơi ông được cấp trên thăng chức trung đội trưởng và giao nhiệm vụ chỉ huy trung đội chốt giữ khu vực cửa mở đã được giải phóng ở căn cứ Đá Bàn không cho địch tái chiếm. Cũng chính trên chốt, Trung đội trưởng Nguyễn Nhật Kỷ được đồng chí Lê Văn Tiếp, Chính trị viên Đại đội 2 kết nạp vào Đảng. Một năm sau, Đảng ủy H7 đã trao quyết định công nhận đảng viên chính thức cho ông. Lần bị thương ấy vĩnh viễn để lại trong phổi ông Kỷ hai mảnh đạn nhỏ.

Bài và ảnh: VIỆT HÀ