Sau đợt 2 Chiến dịch Tây Nguyên (ngày 10 và 11-3-1975) tiến công thị xã Buôn Ma Thuột, trận then chốt thứ nhất thắng lợi, nhiệm vụ của Bộ tư lệnh chiến dịch là xác định mục tiêu chủ yếu của đợt 3, cũng là trận then chốt thứ hai. Trong kế hoạch tác chiến chiến dịch ban đầu, Bộ tư lệnh chiến dịch chủ động dự kiến đánh quân địch phản kích (chủ yếu là Sư đoàn 23 ngụy) khi ta tiến công thị xã Buôn Ma Thuột và giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 10 đánh địch phản kích.

Thực hiện nhiệm vụ được giao, đêm 12-3-1975, Bộ tư lệnh Sư đoàn 10 họp, nhận định: Địch không thể theo Đường số 14 (do Sư đoàn 320 ta đã chiếm giữ), mà chỉ có thể ứng cứu giải tỏa đổ bộ đường không xuống khu vực dọc Đường số 21 ở phía Đông Buôn Ma Thuột, bởi nơi đây thuận lợi đổ bộ đường không, hơn nữa gần các căn cứ 45, 53 và sân bay Hòa Bình. Thế nhưng sáng 13-3, do căn cứ 45 bị ta chiếm, một phần căn cứ 53 bị ta khống chế nên địch phải dùng trực thăng đổ quân xuống khu vực chưa được chuẩn bị trước là ở Nông Trại-Phước An. Tiếp đó, địch đổ bộ bố trí một bộ phận lực lượng ở Chư Cúc.

Quân giải phóng tiến vào sân bay Hòa Bình ở thị xã Buôn Ma Thuột, tháng 3-1975. Ảnh tư liệu 

Trên cơ sở nắm chắc tình hình địch, Bộ tư lệnh Sư đoàn 10 xác định mục tiêu chủ yếu là đánh Sư đoàn 23 địch, lực lượng mạnh nhất ở Tây Nguyên phản kích ở khu vực Nông Trại-Phước An-Chư Cúc hòng “tái chiếm” thị xã Buôn Ma Thuột. Đây là quyết định thể hiện ta đã dự kiến, đánh giá chính xác tình huống, thủ đoạn và khu vực đổ bộ ứng cứu giải tỏa để đánh địch là hoàn toàn sáng suốt.

Đánh giá về địch, Bộ tư lệnh chiến dịch chỉ rõ: Địch chỉ sử dụng Sư đoàn 23 phản kích trong thế bị bất ngờ và bị động sau khi thị xã Buôn Ma Thuột đã bị ta chiếm giữ. Do đó, địch không thể đổ bộ cả sư đoàn xuống cùng một lúc để phản kích mà phải đổ bộ quân xuống trong tình trạng bị cô lập, thiếu xe tăng và pháo binh chi viện; đồng thời càng khó khăn hơn khi không có những căn cứ vững chắc ở gần nơi đổ quân xuống để hỗ trợ làm bàn đạp phản kích. Trên cơ sở đó, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định chỉ sử dụng Sư đoàn 10 (thiếu 1 trung đoàn) được tăng cường 1 tiểu đoàn xe tăng, Trung đoàn Bộ binh 95A, cụm pháo binh và pháo phòng không chiến dịch vẫn đủ sức mạnh đánh bại lực lượng phản kích của địch, gồm: Sư đoàn 23 (thiếu 1 trung đoàn) và lực lượng tại chỗ (Liên đoàn biệt động quân 21, 3 tiểu đoàn bảo an), lực lượng còn lại của Trung đoàn 45 (tổng cộng khoảng 5.600 quân) ở khu vực Nông Trại-Phước An-Chư Cúc, tỉnh Đắk Lắk.

Về cách đánh địch phản kích, Bộ tư lệnh chiến dịch xác định 3 bước: Bước 1, khi lực lượng phản kích địch chưa tới, ta nhanh chóng tổ chức đánh chiếm các căn cứ 45, 53, sân bay Hòa Bình và Chư Nga, không để địch lợi dụng làm bàn đạp tiến vào Buôn Ma Thuột; buộc chúng phải đổ quân xuống những khu vực bất lợi. Bước 2, ta nhanh chóng tổ chức lực lượng cơ động bao vây tiêu diệt lực lượng phản kích chủ yếu của địch là Trung đoàn 45 khi chúng vừa đổ bộ xuống, chưa kịp củng cố vị trí đóng quân. Bước 3, ta phát triển tiến công trong hành tiến, truy kích tiêu diệt lực lượng còn lại của Sư đoàn 23 địch và lực lượng địa phương quân của địch từ phía Đông Phước An đến Chư Cúc. Nhờ xác định cách đánh đúng đắn, chính xác, ta đã phát huy được sức mạnh tiến công để tiêu diệt quân địch phản kích.

Trong quá trình đánh quân địch đổ bộ bằng đường không để phản kích, Bộ tư lệnh chiến dịch chỉ huy quyết đoán, chính xác; bộ đội ta đã chủ động tiến công đánh chiếm các vị trí như căn cứ 45, Bản Đôn, Chư Nga, không cho địch có điều kiện tiến vào gần thị xã Buôn Ma Thuột. Khi địch vừa đổ quân, không chờ chúng có đầy đủ lực lượng, ta chủ động đánh ngay lúc địch mới đứng chân chưa vững. Sau khi đánh chiếm Nông Trại, bộ đội ta chuyển ngay sang đánh Trung đoàn 44 địch; đồng thời tổ chức lực lượng tiến ngay vào Khánh Dương. Nhờ các cấp chỉ huy điều hành thông suốt, ta đã tổ chức hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng, chớp thời cơ, không cho địch kịp củng cố lực lượng ở các vị trí vừa đứng chân; đồng thời vận dụng linh hoạt các hình thức tác chiến: Vận động bao vây tiến công liên tục, tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc, tập kích, tiến công địch trong hành tiến, truy kích và kết hợp chặt chẽ các thủ đoạn bao vây, đột phá, thọc sâu, chia cắt, vu hồi, đón lõng... từng bước phá thế địch, tạo thế ta để giành thắng lợi.

Sau 5 ngày chiến đấu (từ ngày 14 đến 18-3-1975), ta tiêu diệt và làm tan rã lực lượng Sư đoàn 23 và lực lượng tại chỗ (biệt động quân, bảo an), thu và phá hủy nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh của địch, kết thúc đợt 3 chiến dịch, giải phóng vùng Đông Bắc tỉnh Đắk Lắk.

Trận Nông Trại-Phước An-Chư Cúc là trận then chốt thứ hai của chiến dịch thắng lợi có ý nghĩa cả về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Về chiến thuật, ta đã thành công trong thực hiện chiến thuật vận động tiến công quy mô sư đoàn, đánh dấu bước phát triển sáng tạo trong quá trình chuẩn bị chiến đấu, xác định cách đánh, sử dụng lực lượng, đánh bại cuộc phản kích bằng thủ đoạn đổ bộ đường không với quy mô sư đoàn của địch. Với chiến thắng này, ta đã đập tan hoàn toàn cuộc phản kích “tái chiếm” Buôn Ma Thuột của địch, góp phần quan trọng thúc đẩy chiến dịch phát triển;  đẩy quân địch ở Bắc Tây Nguyên đến nguy cơ tan vỡ và bị tiêu diệt nhanh chóng khi tháo chạy trên Đường số 7 (trận then chốt thứ ba), tạo điều kiện cho quân ta phát triển tiến công giải phóng toàn bộ Tây Nguyên và một số tỉnh duyên hải Trung Bộ, mở ra bước ngoặt quyết định đưa cuộc tiến công chiến lược phát triển thành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.