* Tàu sân bay USS Gerald R. Ford bước vào đợt bảo dưỡng
Tàu sân bay USS Gerald R. Ford (CVN-78) đã cập Xưởng đóng tàu hải quân Norfolk tại Portsmouth (bang Virginia) để bắt đầu đợt bảo dưỡng định kỳ đầu tiên sau chuyến triển khai kéo dài 326 ngày, với mục tiêu khôi phục tình trạng kỹ thuật, sửa chữa các hư hỏng và chuẩn bị cho chu kỳ hoạt động tiếp theo.
USS Gerald R. Ford vào xưởng chỉ 52 ngày sau khi trở về Căn cứ Hải quân Norfolk, kết thúc chuyến triển khai bắt đầu từ ngày 24-6-2025. Trong gần 11 tháng làm nhiệm vụ, con tàu đã vượt hơn 106.885km và thực hiện khoảng 12.200 lượt phóng máy bay, phản ánh cường độ khai thác rất lớn của con tàu.
 |
Tàu sân bay USS Gerald R. Ford vào xưởng Norfolk chỉ 52 ngày sau khi kết thúc chuyến triển khai kéo dài 326 ngày. Ảnh: Hải quân Mỹ
|
Đợt bảo dưỡng lần này bao gồm kiểm tra kỹ thuật cấp xưởng, sửa chữa máy móc, hệ thống điện, bảo dưỡng các thiết bị hàng không, hiện đại hóa một số hạng mục và cải thiện điều kiện sinh hoạt trên tàu. Một nội dung quan trọng là khắc phục triệt để hậu quả vụ cháy xảy ra tại khu giặt là phía đuôi tàu vào tháng 3-2026. Đám cháy đã lan sang các khoang nghỉ lân cận, phá hủy hơn 100 giường ngủ và buộc Hải quân Mỹ phải điều chuyển khoảng 1.000 tấm đệm từ tàu John F. Kennedy (CVN-79) để bảo đảm chỗ nghỉ tạm thời cho thủy thủ đoàn.
Ngay trong thời gian tàu hoạt động tại Địa Trung Hải, Xưởng hải quân Norfolk đã cử 43 kỹ thuật viên lên tàu để lắp đặt hệ thống thông gió và chiếu sáng tạm thời, khôi phục nguồn điện và sửa chữa các tuyến cáp điện phục vụ khu vực phía đuôi tàu. Trong đợt bảo dưỡng hiện nay, toàn bộ hệ thống tạm thời sẽ được tháo bỏ, các tuyến cáp hư hỏng được thay thế, đồng thời tiến hành kiểm tra ảnh hưởng của nhiệt và khói đối với kết cấu, vật liệu cách nhiệt và hệ thống thông gió trước khi khôi phục hoàn toàn các khoang nghỉ.
Khối lượng công việc lần này được đánh giá phức tạp hơn các đợt bảo dưỡng thông thường, do USS Gerald R. Ford là tàu đầu tiên của lớp Ford, sở hữu nhiều công nghệ mới như hệ thống phóng máy bay điện từ, hệ thống hãm đà tiên tiến, 11 thang nâng vũ khí thế hệ mới cùng hệ thống điện và lò phản ứng hạt nhân A1B khác biệt hoàn toàn so với lớp Nimitz. Cường độ hoạt động cao trong suốt 326 ngày triển khai cũng làm gia tăng đáng kể số giờ vận hành của động cơ, thiết bị điện, hệ thống hàng không và các trang bị trên boong tàu.
* Lục quân Anh hoàn tất tiếp nhận 123 xe chiến thuật Jackal 3
Công ty Babcock và Supacat đã hoàn thành chương trình sản xuất 123 xe vận tải cơ động cao (HMT) Jackal 3 cho Lục quân Anh, với chiếc cuối cùng xuất xưởng vào giữa tháng 7-2026. Chương trình đánh dấu việc hoàn tất lô sản xuất đầu tiên của thế hệ Jackal 3, góp phần khôi phục và hiện đại hóa năng lực cơ động chiến thuật, trinh sát tầm xa của quân đội Anh.
Lô phương tiện được bàn giao gồm 70 xe Jackal 3 cấu hình 4×4 và 53 xe Jackal 3 Extenda cấu hình 6×6. Tất cả đều được lắp ráp tại dây chuyền chuyên dụng của Babcock ở Devonport, trong khi Supacat tiếp tục đảm nhiệm thiết kế và phát triển nền tảng kỹ thuật.
Chương trình được triển khai theo hai giai đoạn. Tháng 2-2023, Bộ Quốc phòng Anh ký hợp đồng đầu tiên mua 70 xe Jackal 3. Đến tháng 9-2024, cơ quan này tiếp tục đặt mua thêm 53 xe Jackal 3 Extenda 6×6. Mặc dù hợp đồng cho phép mua tối đa 240 xe, đến nay Anh vẫn chưa công bố đơn đặt hàng bổ sung đối với 117 xe còn lại.
 |
| Bộ Quốc phòng Anh ký hợp đồng đầu tiên vào tháng 2-2023 để mua 70 xe chiến thuật Jackal 3. Ảnh: Bộ Quốc phòng Anh |
Jackal 3 được phát triển từ dòng HMT 400 nhưng được cải tiến đáng kể về tải trọng, hệ thống treo và khả năng tích hợp trang bị nhiệm vụ. Phiên bản 4×4 có khối lượng toàn bộ 7,6 tấn, tải trọng hữu ích khoảng 2,1 tấn, sử dụng động cơ diesel Cummins 6,7 lít kết hợp hộp số tự động Allison, đạt tốc độ tối đa 120km/giờ và tầm hoạt động lên tới 800km tùy điều kiện khai thác. Hệ thống treo độc lập mới giúp tăng khả năng vượt địa hình và cải thiện độ ổn định khi cơ động.
Trong khi đó, phiên bản Jackal 3 Extenda bổ sung thêm một trục bánh để chuyển sang cấu hình 6×6 nhưng vẫn giữ nguyên nền tảng khung gầm và hệ thống truyền động. Thiết kế này nâng tải trọng hữu ích lên khoảng 4 tấn, cho phép mang theo nhiều nhiên liệu, đạn dược, thiết bị tác chiến điện tử, hệ thống chỉ huy - điều khiển, cảm biến hoặc trang thiết bị quân y phục vụ các nhiệm vụ kéo dài.
Jackal 3 cũng có thể tích hợp các gói giáp chống mìn và đạn, tời tự cứu và nhiều loại vũ khí như súng máy 12,7mm, súng máy 7,62mm hoặc súng phóng lựu tự động 40mm. Dòng xe này được Lục quân Anh sử dụng trong các nhiệm vụ trinh sát, tuần tra tầm xa, đột kích nhanh, hộ tống đoàn xe, yểm trợ hỏa lực và trinh sát, giám sát, tìm kiếm mục tiêu.
* Colombia cân nhắc máy bay vận tải C-390 của Brazil
Tổng thống Colombia Gustavo Petro được cho là đã chỉ đạo Lực lượng Hàng không Vũ trụ Colombia (FAC) hoàn tất đàm phán mua 2 máy bay vận tải chiến thuật Embraer C-390 Millennium của Brazil, dù quá trình đánh giá kỹ thuật giữa C-390 với Lockheed Martin C-130J Super Hercules và Airbus A400M Atlas vẫn chưa kết thúc.
Theo Infodefensa, động thái này nhằm đẩy nhanh việc thay thế một phần đội C-130H Hercules đã cũ để bảo đảm năng lực vận tải quân sự, cứu trợ nhân đạo và ứng phó thiên tai trên lãnh thổ Colombia.
Nếu được ký kết, đây sẽ là bước tiếp theo trong quá trình tăng cường hợp tác hàng không quốc phòng giữa Colombia và Brazil. Trước đó, Colombia đã đưa vào sử dụng các máy bay EMB-312 Tucano và A-29 Super Tucano của Embraer, đồng thời lựa chọn tiêm kích Gripen E/F, chương trình mà Embraer đảm nhiệm vai trò quan trọng trong sản xuất, bảo đảm hỗ trợ kỹ thuật tại Brazil.
 |
| C-390 Millennium có tải trọng tối đa 26 tấn, cao hơn mức 19-20 tấn của C-130J-30 Super Hercules nhưng thấp hơn tải trọng 37 tấn của A400M Atlas. Ảnh: Không quân Brazil |
Trong ba ứng viên, C-390 nằm giữa C-130J và A400M về năng lực vận tải. Máy bay có tải trọng tối đa 26 tấn, cao hơn mức 19-20 tấn của C-130J nhưng thấp hơn mức 37 tấn của A400M. Nhờ sử dụng hai động cơ phản lực IAE V2500-E5, C-390 đạt tốc độ hành trình khoảng 870km/giờ, nhanh hơn khoảng 210km/giờ so với C-130J. Trên hành trình dài 2.000km, ưu thế này có thể giúp rút ngắn gần một giờ thời gian bay.
Khoang hàng của C-390 đủ khả năng vận chuyển 80 binh sĩ, 66 lính dù, 74 cáng cứu thương cùng nhân viên y tế hoặc nhiều loại phương tiện quân sự như xe bọc thép M113, Boxer hay VBTP-MR Guarani. Ngoài vận tải, máy bay cũng có thể cấu hình để thực hiện các nhiệm vụ tiếp dầu trên không, sơ tán y tế, tìm kiếm cứu nạn, chữa cháy và cứu trợ nhân đạo.
Ở vai trò tiếp dầu, các ống tiếp dầu lắp dưới cánh có thể chuyển nhiên liệu với tốc độ lên tới 1.500 lít/phút, sử dụng lượng nhiên liệu mang theo tối đa 35.000kg.
Tuy nhiên, việc chỉ mua 2 chiếc C-390 cũng đặt ra nhiều thách thức, bởi chỉ cần một máy bay phải bảo dưỡng lớn hoặc chờ phụ tùng thay thế thì số lượng máy bay sẵn sàng hoạt động giảm một nửa. Đây là vấn đề đáng lưu ý khi các máy bay vận tải của Colombia thường xuyên phải thực hiện nhiệm vụ tại các khu vực với điều kiện hạ tầng hàng không còn nhiều hạn chế.