* Pháp nhận máy bay tuần tra biển Falcon 2000 LXS Albatros đầu tiên

Tổng cục Vũ khí Pháp (DGA) đã bàn giao 2 máy bay tuần tra, giám sát trên biển Falcon 2000 LXS Albatros đầu tiên cho Hải quân Pháp tại căn cứ không quân hải quân Lann-Bihoué. Sự kiện mở đầu cho chương trình hiện đại hóa phi đội mang tên AVSIMAR nhằm thay thế các máy bay tuần tra Falcon 50M và Falcon 200 Guardian đã cũ.

Hiện hai chiếc Albatros đang được đánh giá và phục vụ huấn luyện chuyển loại trước khi đạt năng lực tác chiến ban đầu. Chương trình AVSIMAR gồm 12 máy bay Falcon 2000 LXS Albatros, được trang bị radar mảng định pha chủ động SearchMaster và cảm biến quang-điện tử EuroFLIR 410. Chiếc Albatros đầu tiên bay thử ngày 24-1-2025. Sau 7 chiếc được đặt mua vào năm 2020, Pháp đặt mua thêm 5 chiếc vào tháng 9-2025. Chiếc thứ ba dự kiến được bàn giao cuối năm 2026, sau đó duy trì tốc độ 2 chiếc mỗi năm cho đến khi hoàn tất 12 chiếc vào năm 2031.

Falcon 2000 LXS Albatros là máy bay hai động cơ mới của Hải quân Pháp dành cho các nhiệm vụ trên biển. Ảnh: Bộ Quốc phòng Pháp

Albatros có chiều dài 20,23m, sải cánh 21,38m, trọng lượng cất cánh tối đa 19.414kg và sức chứa nhiên liệu 7.557kg. Hai động cơ PW308C cho phép máy bay đạt tốc độ Mach 0,862 (1.065km/giờ), trần bay khoảng 14,3km, tầm bay cơ bản 7.408km và thời gian hoạt động lên tới 8 giờ. So với Falcon 50M có tầm bay 5.000km và thời gian hoạt động 6 giờ 30 phút, Albatros có khả năng hoạt động xa và lâu hơn đáng kể. So với Falcon 200 Guardian, máy bay mới có tầm bay gấp đôi và thời gian hoạt động tăng từ 5 giờ 30 phút lên 8 giờ.

Về cảm biến và hệ thống nhiệm vụ, Albatros sử dụng radar SearchMaster băng tần X cùng EuroFLIR 410 để phát hiện và nhận dạng mục tiêu. Hệ thống nhiệm vụ tích hợp dữ liệu radar, hình ảnh quang học, thông tin dẫn đường và dữ liệu chiến thuật trong một môi trường chung. Hệ thống liên kết dữ liệu kỹ thuật số Link 22, hệ thống liên lạc vệ tinh và hệ thống định hướng vô tuyến hỗ trợ trao đổi dữ liệu chiến thuật, liên lạc ngoài tầm nhìn và xác định vị trí nguồn phát. Thiết bị vệ tinh định vị toàn cầu chống gây nhiễu giúp tăng khả năng duy trì dẫn đường trong môi trường có nhiễu tín hiệu vệ tinh.

* Thủy quân lục chiến Mỹ sắm Mission Master SP

Rheinmetall đã ký hợp đồng trị giá 7,28 triệu USD với Cơ quan hậu cần quốc phòng Mỹ để cung cấp 12 nền tảng mặt đất không người lái mang tên Mission Master SP, cùng các thiết bị hỗ trợ, dịch vụ kỹ thuật, hậu cần, huấn luyện và thử nghiệm nghiệm thu cho Thủy quân lục chiến Mỹ.

Mission Master SP dài 3,05m, rộng 1,52m, cao 1,02m, có khoảng sáng gầm 250mm và nặng 1.134 kg khi chưa mang tải. Phương tiện có thể chở tới 1.000kg khi di chuyển trên đất liền, đạt tốc độ tối đa 40km/giờ và tầm hoạt động 54km. Khả năng leo dốc tối đa đạt 35°, tương đương độ dốc 70%. Hệ thống động lực tiêu chuẩn sử dụng động cơ điện và pin; xe cũng có thể được trang bị hệ thống lai diesel-điện, máy phát điện bên ngoài.

 Rheinmetall đã ký hợp đồng trị giá 7,28 triệu USD để cung cấp 12 phương tiện tự hành Mission Master SP cho Thủy quân lục chiến Mỹ. Ảnh: Rheinmetall

Khi hoạt động dưới nước, tải trọng của xe giảm xuống 300kg, tốc độ còn 4km/giờ hoặc 8 km/giờ khi sử dụng hệ thống hỗ trợ động lực. Bản SP tiêu chuẩn vốn đã có khả năng đổ bộ, song các bộ kit đổ bộ giúp tăng độ tin cậy và thời gian hoạt động trong các nhiệm vụ ven bờ. Xe có thể được vận chuyển bằng máy bay CH-53, CH-47, V-22 và C-130, treo ngoài bằng dây, thả dù hoặc vận chuyển trong container.

Khả năng tự hành của Mission Master SP dựa trên bộ công cụ tự hành PATH do Rheinmetall Canada phát triển. Hệ thống có thể kết hợp cảm biến laser, radar và camera để định vị, lập bản đồ, tránh chướng ngại vật, phân tích địa hình, nhận dạng hình ảnh, theo dõi mục tiêu, tạo tuyến đường và hợp nhất dữ liệu cảm biến.

Mission Master SP có kiến trúc tải trọng mô-đun, cho phép đảm nhiệm các nhiệm vụ hậu cần, sơ tán thương binh, tình báo, giám sát và trinh sát, thông tin liên lạc, và mang vũ khí. Thủy quân lục chiến Mỹ đã thử nghiệm Mission Master SP trong các cuộc diễn tập, với các nhiệm vụ sơ tán thương binh, tiếp tế, hoạt động trong đô thị và di chuyển tự hành trên quãng đường tới 50km.

* Nhật Bản cân nhắc chuyển giao tàu khu trục cho Chile

Nhật Bản đang xem xét khả năng chuyển giao các tàu khu trục lớp Murasame, Takanami hoặc Akizuki cho Chile nhằm duy trì lực lượng tàu chiến mặt nước của Hải quân Chile ở mức tối thiểu 8 tàu. Đây được xem là giải pháp cầu nối trong khi Chile chuẩn bị thực hiện kế hoạch đóng tàu thay thế trong giai đoạn 2025-2040.

Theo Defensa, Nhật Bản có tổng 18 tàu thuộc 3 lớp nói trên, gồm 9 chiếc Murasame, 5 chiếc Takanami và 4 chiếc Akizuki. Tuy nhiên, nước này vẫn chưa đưa ra lựa chọn lớp tàu, số lượng, giá cả, thời điểm bàn giao, gói vũ khí hay tiêu chuẩn nâng cấp nào.   

Trong các lựa chọn, Murasame có số lượng tàu lớn nhất nhưng cũng cũ nhất. Chín tàu được đưa vào biên chế từ năm 1996 đến 2002. Tàu lớp này dài 151m, lượng giãn nước đầy tải khoảng 6.200 tấn, mang khoảng 165 nhân sự và được trang bị 32 ống phóng thẳng đứng Mk 48/Mk 41, tên lửa Type 90, pháo 76mm, và năng lực chống ngầm với sonar cùng trực thăng SH-60J/K. Tuy nhiên, nếu tiếp tục sử dụng đến cuối những năm 2030, tuổi tàu sẽ là yếu tố quan trọng đối với chi phí bảo dưỡng và khả năng khai thác.

Akizuki là lớp tàu mới nhất với năng lực phòng không mạnh nhất trong 3 lớp tàu mà Nhật Bản đang xem xét. Ảnh: Bộ Quốc phòng Nhật Bản

Takanami có lợi thế hơn về tuổi đời. Năm tàu được đưa vào biên chế từ năm 2003 đến 2006, với chiều dài 151m, rộng 17,4m, có lượng giãn nước khoảng 6.400 tấn, có tốc độ 30 hải lý/giờ và tầm hoạt động khoảng 8.334km ở tốc độ 24 hải lý/giờ. Tàu được trang bị một cụm 32 ô phóng Mk 41, pháo 127mm, tên lửa Type 90, ngư lôi và trực thăng SH-60J/K.

Akizuki là lớp tàu mới nhất và có năng lực phòng không mạnh nhất, nhưng Nhật Bản chỉ có 4 chiếc. Được đưa vào biên chế từ năm 2012 đến 2014, mỗi tàu dài 150,5m, lượng giãn nước khoảng 6.800 tấn, mang khoảng 200 nhân sự và có 32 ô phóng Mk 41, pháo 127mm, tên lửa Type 90. Chuyển giao 2 tàu sẽ đồng nghĩa với việc Nhật Bản mất một nửa số tàu Akizuki đang hoạt động.

Phương án ít rủi ro nhất là Chile lựa chọn duy nhất một lớp tàu của Nhật Bản để thay thế các tàu khi chúng bị loại biên, sau đó rút các tàu này khi các nền tảng do Chile đóng được đưa vào biên chế. Bởi theo Defensa, việc tiếp nhận hỗn hợp nhiều lớp tàu sẽ làm tăng gánh nặng về radar, sonar, hệ thống tác chiến, tên lửa, bảo dưỡng và huấn luyện.