Bến tàu trong lòng địch
Sau khi thực hiện sáp nhập đơn vị hành chính vào tháng 7-2025, Vũng Rô nay thuộc xã Hòa Xuân, tỉnh Đắk Lắk (trước đây thuộc xã Hòa Xuân Nam, thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên). Nơi đây giờ đã trở thành một vùng kinh tế biển quy mô lớn, với nhiều hoạt động nuôi trồng hải sản và dịch vụ, thuyền bè san sát, nhưng dấu tích chiến tranh và những ngày sôi động, hào hùng của hơn 60 năm trước vẫn còn trong ký ức những người từng tham gia vận chuyển vũ khí vào đây.
Trở lại thăm Trung tá, Anh hùng LLVT nhân dân Hồ Đắc Thạnh tại phường Tuy Hòa (tỉnh Đắk Lắk) lần này, tôi thấy ông không còn khỏe và nhanh nhẹn như những lần trước, nhưng vẫn minh mẫn dù đã 92 tuổi. Nhắc chuyện Tàu không số, ông bồi hồi: "Đời làm thuyền trưởng đưa vũ khí vào Nam của tôi đi tất cả 12 chuyến, trong đó có 3 chuyến tôi được trực tiếp chỉ huy Tàu 41 cùng đồng đội về chính quê hương tôi, tức là bến Vũng Rô. Phải nói là không có một từ ngữ nào có thể diễn tả được tình cảm của tôi trong 3 chuyến đi đó. Đấy là tình cảm của một người con xa quê lâu ngày được trở về, không phải về tay không mà về với hơn 100 tấn vũ khí để chi viện cho quê hương đánh giặc. Cái nghĩa với gia đình, với quê hương đã nuôi nấng tôi nên dù có gian lao, hiểm nguy, thậm chí xác định hy sinh tính mạng thì tôi cũng như đồng đội vẫn quyết tâm thực hiện"...
Vũng Rô thật đẹp vì cảnh quan thiên nhiên, nước biển xanh ngăn ngắt. Nhưng Vũng Rô đẹp còn bởi có những người đã trung kiên bám giữ để làm nên một bến đỗ huyền thoại cho những con tàu huyền thoại cập vào. Đại tá Đặng Phi Thưởng (1947-2023), nguyên Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Phú Yên nhớ lại: "Khi đón Tàu không số của anh Hồ Đắc Thạnh đưa vũ khí vào, tôi lúc ấy là chiến sĩ của Đại đội K60 (Vũng Rô) làm nhiệm vụ bảo vệ, bốc dỡ hàng từ tàu lên bến và vận chuyển về nơi cất giấu. Thời đó, anh em chúng tôi rất vui sướng, tự hào vì được anh Hồ Đắc Thạnh-một người con của quê hương đi tham gia cách mạng từ khi còn nhỏ-đưa vũ khí về cho quê hương đánh giặc. Ai cũng tự tin vì có vũ khí mới, vũ khí tốt để chiến đấu với địch, mong sớm giải phóng quê hương".
Không phải ngẫu nhiên mà Quân ủy Trung ương chấp nhận đề xuất của Tỉnh ủy Phú Yên, chọn Vũng Rô làm bến đón những con Tàu không số. Vũng Rô kín đáo, nước sâu là một nhẽ, nơi đây còn có địa hình thuận lợi, nhiều hang động phù hợp cho việc cất giấu vũ khí để chuyển đến các mặt trận. Từ bến Vũng Rô này, vũ khí vượt núi lên Tây Nguyên, qua Quốc lộ 1 để ra Bình Định, Quảng Ngãi... Có vũ khí, Quân Giải phóng Khu 5 đã tiêu diệt nhiều căn cứ của địch ở Dương Liễu, Đèo Nhông và lần đầu tiên phá hủy xe tăng, xe bọc thép của địch bằng B40, B41...
Kể chuyện Tàu không số vào Vũng Rô, ông Nguyễn Duy Luân (1928-2017), nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên cho biết: "LLVT của Phú Yên lúc bấy giờ phát triển nhanh lắm nên tỉnh đã gửi điện đề nghị Trung ương chi viện vũ khí và được Trung ương chấp nhận. Nhưng Trung ương cũng yêu cầu Phú Yên phải chuẩn bị bến bãi để tiếp nhận vũ khí từ đường biển. Sau rất nhiều lựa chọn, cuối cùng, chúng tôi chọn Vũng Rô vì nơi đây có địa hình thuận lợi, kín đáo và bí mật... Nhưng Vũng Rô cũng có một điểm yếu là gần tuyến Đường 1 quá! Nếu tính đường chim bay, Vũng Rô chỉ cách Tuy Hòa 8-9km, lại nằm sát tuyến thiết lộ (đường sắt), gần sân bay và các đồn, bốt của địch đóng trên Quốc lộ 1. Vậy nên việc chọn Vũng Rô là bến tập kết vũ khí từ miền Bắc vào là một phương án cực kỳ táo bạo".
Chỉ trong một thời gian ngắn, Tàu 41 của Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh đã đi được 3 chuyến, đưa được hơn 120 tấn vũ khí vào bến Vũng Rô khi mà dải đất này từ Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và cả Tây Nguyên đang "khát" vũ khí. Tuy nhiên, có một sự kiện đáng tiếc đã xảy ra cũng chính tại bến Vũng Rô này. Đó là vào đầu năm 1965, đúng Mồng Một Tết Ất Tỵ, khi Tàu 143 của Thuyền trưởng Lê Văn Thêm được lệnh đưa 63 tấn vũ khí vào Vũng Rô, do phải vòng tránh tàu địch nên Tàu 143 vào bến bị muộn giờ. Mặc dù các thủy thủ của tàu và lực lượng ở bến đã hết sức khẩn trương nhưng việc bốc xếp vũ khí chưa xong thì trời đã sáng, tàu đành ngụy trang để ở lại bến và một bi kịch đã xảy ra: Tàu 143 bị lộ.
Đây là sự cố hi hữu trong hành trình đưa vũ khí vào chi viện cho các chiến trường miền Nam mà sau này, cán bộ, chiến sĩ ở Đoàn tàu không số gọi là “sự kiện Vũng Rô”. Cũng từ đây, việc vận chuyển vũ khí chi viện cho các chiến trường ở miền Nam bằng Đường Hồ Chí Minh trên biển trở nên vô cùng khó khăn trước sự canh phòng cẩn mật của địch.
Ai đã đến Phú Yên (nay là Đắk Lắk), đứng trên đèo Cả nhìn xuống, Vũng Rô giống như một cái nong lớn chứa đầy nước, núi Đá Bia và núi Mác bao quanh. Nước ở đây rất xanh, tàu đánh cá của ngư dân đậu san sát, không một dấu vết gợi cho biết nơi đây từng diễn ra cuộc đọ súng suốt 8 ngày đêm giữa một bên là đơn vị K60 cùng lực lượng du kích bến Vũng Rô và cán bộ, thủy thủ Tàu 143 với một bên là hai tiểu đoàn địch có máy bay, tàu chiến yểm trợ.
 |
| Các cựu chiến binh Đoàn tàu không số làm lễ tưởng niệm đồng đội và nhân dân hy sinh tại bến Vũng Rô, tháng 3-2008. |
Nghĩa tình ở Vũng Rô
Nói chuyện tàu vào Vũng Rô, không thể không nhắc đến công lao to lớn của đồng chí Trần Suyền (1922-1998), còn gọi là Sáu Suyền, người chỉ đạo và thành lập bến. Năm 1963, khi Phú Yên nhận được chỉ thị từ Trung ương, chuẩn bị bến bãi để đón vũ khí từ Bắc chuyển vào bằng đường biển, ông Trần Suyền khi đó là Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên được giao nhiệm vụ này.
Nhắc nhớ về kỷ niệm với đồng chí Trần Suyền, ông Hồ Đắc Thạnh kể: “Hồi Tàu 41 của tôi cập bến Vũng Rô, tôi đã khóc khi được gặp lại anh Sáu Suyền, Bí thư Tỉnh ủy và nhiều bạn bè cùng trang lứa ra đón. Quê hương đây thật rồi mà ngỡ như vẫn còn mơ. Siết tay nhau, miệng cười nhưng nước mắt trào ra...”.
Đặc biệt, trong chuyến thứ hai đưa tàu vào Vũng Rô, ngoài 60 tấn vũ khí cho chiến trường, Tàu 41 của ông Thạnh còn chở theo 3 tấn gạo. Bởi trong chuyến trước vào, ông thấy Bí thư Tỉnh ủy Trần Suyền và bà con ở bến đói quá, phải ăn quả sung thay cơm để làm nhiệm vụ, nên khi ra Bắc, ông đã đề nghị Quân chủng Hải quân cấp cho 3 tấn gạo. Theo hồi tưởng của ông Thạnh, để có 3 tấn gạo này cũng là một cuộc đấu tranh rất gay gắt bởi nhiều ý kiến cho rằng Phú Yên là nơi đồng bằng lớn nhất ở Nam Trung Bộ, đưa gạo vào Phú Yên khác nào "chở củi về rừng". Mọi người đâu biết rằng mặc dù Phú Yên là vựa thóc ở Nam Trung Bộ nhưng giai đoạn đó giặc càn, vây ráp liên tục nên các lực lượng của ta đóng trên địa bàn rất thiếu thốn, đói dài; nhiều cán bộ, chiến sĩ đã phải ăn sung luộc, kiên nhẫn hằng tháng trời ém mình nơi hang sâu, hốc núi để chờ đón vũ khí.
Khu vực trưng bày về Đoàn tàu không số tại Bảo tàng Hải quân (TP Hải Phòng) đang lưu giữ một nắm đất Vũng Rô và hình tượng cô dân công miền Nam trao nắm đất tặng Thuyền trưởng Tàu 41 được tạc thành tượng đồng như một biểu tượng đẹp về nghĩa tình ruột thịt Bắc-Nam. Câu chuyện về nắm đất này có lần tôi được nghe ông Hồ Đắc Thạnh kể: Trong chuyến thứ ba đưa hàng vào bến Vũng Rô của Tàu 41, sau khi hoàn thành việc bốc dỡ hàng, lúc tàu chuẩn bị nhổ neo rời bến, bỗng có một cô dân công rất trẻ đến gặp và trao cho ông gói quà được bọc cẩn thận trong chiếc khăn tay, cô nói: “Bà con Phú Yên xin gửi theo tàu nắm đất Vũng Rô-mảnh đất kiên trung, bất khuất, một lòng theo Ðảng, theo Bác Hồ. Nay có vũ khí của miền Bắc chi viện, mảnh đất này sẽ lập nhiều chiến công...”.
Sau ngày đất nước thống nhất, Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh trở về quê và đã tìm gặp lại cô dân công năm xưa, đó là bà Nguyễn Thị Tản, hiện sinh sống tại xã Tuy An (tỉnh Đắk Lắk). Tôi đã gặp bà Tản và được nghe bà kể: "Dịp Tết năm 1964, tôi mới 16 tuổi, cùng các đoàn viên của xã được chọn vào đội dân công làm nhiệm vụ tại bến Vũng Rô. Lúc Tàu 41 sắp rời bến, chú Sáu Suyền và mấy chú nữa gợi ý cho chị em chúng tôi có quà gì tặng cán bộ, thủy thủ Tàu 41. Tôi suy nghĩ, bến Vũng Rô chẳng có món quà gì đáng giá để tặng, mà chỉ nghĩ con người sống nhờ đất, chết cũng gắn bó với đất; bao nhiêu đồng chí, đồng đội chiến đấu, hy sinh cũng để bảo vệ từng tấc đất quê hương. Vì thế, tôi chọn trao nắm đất Vũng Rô tặng Tàu 41 ra miền Bắc là muốn thể hiện quyết tâm của nhân dân Phú Yên chiến đấu đến cùng để giữ lấy mảnh đất quê hương...”.
(còn nữa)