Mặc dù được thành lập vào đầu năm 1946 nhưng đơn vị tiền thân của Trung đoàn là Chi đội 3 Vệ quốc đoàn thành lập ngày 20-11-1945. Đây là đơn vị nằm trong đội hình của lực lượng vũ trang Chiến khu 3-một trong những đơn vị chủ lực đầu tiên của Quân đội ta.

Ra đời vào những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám, Chi đội 3 đã lập nhiều chiến công, góp phần cùng quân và dân các tỉnh miền duyên hải Đông Bắc củng cố chính quyền cách mạng, đập tan nhiều âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù. Đến tháng 2-1946, Chi đội 3 phát triển mạnh mẽ cả về quy mô lực lượng và vũ khí, trang bị, được nhân dân trong vùng yêu mến gọi là trung đoàn. Theo sắc lệnh và chỉ thị của Bộ tư lệnh Chiến khu 3, Chi đội 3 đã đổi thành Trung đoàn 6. Đến tháng 10-1946, Trung đoàn 6 đổi phiên hiệu thành Trung đoàn 41. Năm 1947, Trung đoàn 41 được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng lá cờ thêu hai chữ vàng "Trung Dũng", sau đó đổi tên thành Trung đoàn 42-Trung Dũng.

Thượng tá Trần Mạnh Cường.

Trong suốt 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Trung đoàn còn nhiều lần vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cờ “Luôn luôn trung dũng”, “Quyết chiến, quyết thắng”; được Đại tướng Võ Nguyên Giáp tặng thanh kiếm truyền thống của cụ Đề Thám với sáu chữ vàng “Dũng cảm, cơ động, linh hoạt” và biểu dương "là Trung đoàn mẫu mực, một đơn vị giỏi nhất, xứng đáng với danh hiệu Bác Hồ đã tặng: Trung Dũng-Luôn luôn trung dũng".

Giai đoạn 1955-1971, Trung đoàn 42 làm nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa và chi viện chiến trường miền Nam đánh Mỹ; Trung đoàn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện chiến trường, cơ động sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ) và chiến đấu. Năm 1971, Trung đoàn 42 được lệnh lên đường vào Nam chiến đấu, “lấy tên là Trung đoàn 24B” thay cho Trung đoàn 24A ở Tây Nguyên.

Với khí thế "Trường Sơn chuyển mình, Pô Kô dậy sóng, quét sạch quân thù giải phóng Tây Nguyên", Trung đoàn tham gia Chiến dịch Xuân-Hè 1972, cùng với các đơn vị bạn và lực lượng vũ trang địa phương tiêu diệt, đập tan toàn bộ lực lượng địch ở Đăk Tô-Tân Cảnh, giải phóng một vùng rộng lớn ở Bắc Kon Tum (nay thuộc tỉnh Quảng Ngãi). Tháng 5-1973, Trung đoàn được biên chế trong đội hình của Sư đoàn 10, tham gia hàng trăm trận lớn nhỏ, đánh bại hầu hết các đơn vị thuộc Sư đoàn 23 ngụy, liên đoàn 22, 23 biệt động; xứng đáng là “cánh cửa thép” của Sư đoàn 10, như lời khen tặng của Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên.

Trong Chiến dịch Tây Nguyên và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Trung đoàn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần xứng đáng vào chiến công chung “đặc biệt xuất sắc” của Sư đoàn 10, Quân đoàn 3 (nay là Quân đoàn 34). Sau khi miền Nam được giải phóng, Bắc-Nam sum họp một nhà, bọn Pol Pot lại gây tội ác đối với đồng bào ta ở biên giới Tây Nam, Trung đoàn một lần nữa bước vào chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế.

Năm 1979, trước yêu cầu nhiệm vụ SSCĐ bảo vệ biên giới phía Bắc, trong đội hình Sư đoàn 10, Trung đoàn đã hành quân từ Campuchia ra biên giới phía Bắc làm nhiệm vụ chiến đấu, phục vụ chiến đấu bảo vệ biên giới. Đến năm 1988, thực hiện sự điều chỉnh chiến lược, cùng với các đơn vị trong Sư đoàn 10, Trung đoàn nhận nhiệm vụ trở lại địa bàn chiến lược Tây Nguyên.

Hơn 38 năm trở lại Tây Nguyên, kế thừa và phát huy truyền thống “Trung Dũng-Luôn luôn trung dũng”, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn đã không ngừng phấn đấu, tích cực sáng tạo, triển khai đồng bộ, hiệu quả các mặt công tác. Trung đoàn đặc biệt coi trọng và làm tốt công tác giáo dục, quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của Quân đội, Quân đoàn, Sư đoàn và đơn vị.

Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện có hiệu quả các phong trào, cuộc vận động của các cấp, ngành, lấy việc làm theo là trọng tâm để xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, kỷ luật tự giác, nghiêm minh, có ý chí quyết tâm cao, đoàn kết nội bộ, gắn bó máu thịt với nhân dân.

Trung đoàn 24 huấn luyện kỹ thuật chuyên ngành súng chống tăng SPG-9. Ảnh: QUỐC PHƯƠNG

Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, đặt nhiệm vụ SSCĐ lên hàng đầu, thường xuyên nắm chắc tình hình, chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật, chủ động luyện tập các phương án chiến đấu, sẵn sàng cơ động làm nhiệm vụ, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Quán triệt và thực hiện Nghị quyết số 1659-NQ/QUTW ngày 20-12-2022 của Quân ủy Trung ương về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2023-2030, Trung đoàn tập trung lãnh đạo làm tốt công tác chuẩn bị và tổ chức huấn luyện cho các đối tượng chặt chẽ, đúng, đủ nội dung và thời gian; thực hiện đúng phương châm, quan điểm, nguyên tắc, mối kết hợp trong huấn luyện.

Coi trọng huấn luyện đồng bộ và chuyên sâu, huấn luyện làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật mới, hiện đại; tăng cường huấn luyện đêm, huấn luyện cơ động, huấn luyện theo nhiệm vụ, theo tình huống, sát đối tượng và địa bàn tác chiến; tổ chức hội thi, hội thao ở cấp mình, tham gia hội thi, hội thao do cấp trên tổ chức chặt chẽ, đạt kết quả cao. Nhờ đó, kết quả huấn luyện các đối tượng hằng năm 100% đạt yêu cầu, có 80%-85% khá, giỏi; huấn luyện chiến sĩ mới 100% các đơn vị đạt khá, giỏi. Công tác xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, bảo đảm an toàn được quan tâm chú trọng, đề ra nhiều giải pháp để thực hiện, góp phần xây dựng Trung đoàn vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”.

Công tác bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội ngày càng được cải thiện; hệ thống doanh trại được xây dựng khang trang, sạch đẹp. Hằng năm sử dụng một lượng lớn vũ khí, trang bị, đạn dược cho nhiệm vụ huấn luyện, diễn tập, SSCĐ, song Trung đoàn đã duy trì nghiêm túc nền nếp công tác quản lý, sử dụng, bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa, không để xảy ra hư hỏng, mất mát. Đồng thời, triển khai thực hiện có hiệu quả các mục tiêu của Cuộc vận động 50; tăng cường các biện pháp kiểm tra bảo đảm an toàn trong thực hiện nhiệm vụ và mọi hoạt động của đơn vị.

Thực hiện chức năng đội quân công tác, trong chiến đấu hay thời bình, trên bất cứ địa bàn nào, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn đều đoàn kết, gắn bó mật thiết với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương. Trung đoàn luôn tích cực, chủ động kết nghĩa, thành lập các tổ công tác, tổ chức hành quân huấn luyện dã ngoại kết hợp làm công tác dân vận với hàng nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ về những “điểm nóng”, vùng sâu, vùng xa, nơi đời sống của đồng bào còn gặp nhiều khó khăn, giúp nhân dân khai hoang, trồng lúa nước, cao su, cà phê, xây dựng nông thôn mới, khắc phục hậu quả thiên tai, góp phần phát triển kinh tế-xã hội, ổn định đời sống nhân dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, được cấp ủy, chính quyền địa phương tặng nhiều bằng khen, giấy khen, để lại ấn tượng sâu sắc và tình cảm tốt đẹp trong lòng Đảng bộ, chính quyền và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.

Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Trung đoàn 24 và Tiểu đoàn 4 thuộc Trung đoàn đã hai lần được Đảng, Nhà nước tặng thưởng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cùng nhiều phần thưởng cao quý khác. Trong Trung đoàn có 3 đồng chí được tặng thưởng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.   

Chặng đường 80 năm qua của Trung đoàn 24 là một chặng đường đầy gian khổ, hy sinh nhưng rực rỡ những chiến công, sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Lớp lớp cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn đã sống và chiến đấu dưới lá cờ vinh quang của Đảng; viết nên trang sử hào hùng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn hôm nay lấy đó làm nền tảng, cội nguồn sức mạnh, đoàn kết, quyết tâm giữ gìn và phát huy truyền thống anh hùng, xây dựng Trung đoàn cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.