Bộ đội gần dân bên bếp lửa, giữa vườn cây

Già làng Điểu Toi, Trưởng bon Bu Prăng 1A, xã Quảng Trực, tỉnh Lâm Đồng gắn bó cùng Trung đoàn 726 (Binh đoàn 16) từ những ngày đầu thành lập. Điều đặc biệt ở chỗ, ông là người dân tộc thiểu số từng giữ cương vị sĩ quan thuộc Trung đoàn. Ông kể, trước kia đồng bào M'nông khổ lắm, đói triền miên, trẻ em không được đi học, bệnh thì tự chữa bằng thuốc rừng, ai sống được thì sống.

Khi có Trung đoàn 726, cuộc sống của người dân trở nên khởi sắc. Hiểu được vai trò của mình, ông cùng cán bộ đơn vị kiên trì tuyên truyền, vận động bà con thay đổi nếp nghĩ, cách làm. “Mình phải gần dân, đến từng nhà khi rảnh, nói chuyện trong buổi sinh hoạt, trong bữa cơm, lúc đi làm rẫy... Phải nói sao cho bà con hiểu rõ cái gì nên làm, cái gì cần tránh. Khi triển khai mô hình sản xuất mới cũng vậy, giúp dân thấy được hiệu quả, lợi ích thiết thực thì dân làm theo”, già làng Điểu Toi chia sẻ.

Trung đoàn 720, Binh đoàn 16 tổ chức ngày hội văn hóa dân tộc với các trò chơi dân gian.

Con đường vào bản Giang Châu, xã Quảng Tân, tỉnh Lâm Đồng hôm nay đã không còn bùn lầy như lời kể của những người đi trước. Triền đồi tiêu, cà phê, sầu riêng xanh mướt trải dài, xen lẫn vườn điều đang mùa thu hoạch. Gió cao nguyên thổi qua, mang theo mùi đất ẩm và hương lá cây ngai ngái. Ít ai hình dung, nơi đây trước kia là vùng rừng rậm hoang sơ, nơi thú dữ còn xuất hiện, nơi con người sống lay lắt theo những mùa nương rẫy ngắn ngủi, hết mùa lại rời đi.

Thượng tá Nguyễn Văn Túc dẫn chúng tôi đến Đội sản xuất 6 (Trung đoàn 720, Binh đoàn 16) khi nắng vừa lên khỏi những triền đồi. Là Phó trung đoàn trưởng Trung đoàn 720 nhưng anh Túc luôn ví mình là “người nông dân chính hiệu”. Nước da cháy nắng, đôi tay chai sạn, anh Túc gắn bó với bà con suốt từ giai đoạn khai hoang, lập bản đến nay. Đội sản xuất 6 thực hiện nhiệm vụ tại bản Giang Châu-một trong 3 bản người Mông theo dòng di cư về đây từ những năm 2000, được Binh đoàn đón nhận, sắp xếp ổn định sinh kế. Đội hiện đang quản lý 6 công nhân, 71 hộ nhận khoán.

Thượng tá Nguyễn Văn Túc kể: “So với các dân tộc thiểu số khác, đồng bào Mông nơi đây sống khép kín, ít giao tiếp, ý thức giữ gìn ngôn ngữ và tập quán rất cao. Họ quen với cách làm nương rẫy, trồng lúa, trồng ngô, hết đất là đi, chưa từng nghĩ đến chuyện trồng cây dài ngày. Những ngày đầu cán bộ đơn vị đến tuyên truyền, vận động, hướng dẫn cả buổi, bà con chỉ cười rồi để đó, bởi họ chưa tin”.

Không nản lòng, để tạo thiện cảm và lấy được lòng tin của đồng bào, cán bộ đơn vị bắt đầu học tiếng Mông bằng cách tham gia các khóa học do Binh đoàn tổ chức và chủ động trò chuyện với bà con, nói chưa sõi thì dùng cử chỉ, ánh mắt; ban ngày xuống bản cùng làm với bà con, ban đêm mở sách vở “học tủ” những từ thông dụng trong giao tiếp.

Cùng với đó, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Binh đoàn 16 đã quyết liệt triển khai nhiều chính sách như: Giao đất sản xuất, đất ở; hỗ trợ chi phí sinh hoạt ban đầu; cung cấp giống cây trồng; hướng dẫn kỹ thuật canh tác cho bà con. Những bờ lô, góc đất thừa được cán bộ đơn vị hướng dẫn tận dụng trồng mì, trồng thêm cây ngắn ngày với phương châm “phải để bà con có cái ăn trước, rồi mới tính chuyện lâu dài”.

“Công tác dân vận bắt đầu từ những cuộc trò chuyện giản dị bên bếp lửa, từ việc cùng ăn bữa cơm đạm bạc với bà con. Khi ấy, cán bộ toàn Trung đoàn đều hăng hái phát cây, cuốc đất, khuân vác cùng dân. Mình không làm thì dân không tin, nói không ai nghe”, giọng Thượng tá Nguyễn Văn Túc chắc nịch.

 Trung đoàn 719, Binh đoàn 16 trao tặng bò giống giúp các hộ dân tộc thiểu số phát triển kinh tế.

Chính những tháng ngày lăn lộn ấy đã tạo nên nền móng đầu tiên của niềm tin và tình cảm quân dân. Có thời điểm, thương lái vào ép giá, mua xong không trả tiền hoặc “bỏ bom” nông sản, khiến bà con hoang mang, chao đảo. Các đội sản xuất kịp thời nắm tình hình, báo cáo chỉ huy Trung đoàn để tổ chức làm việc, bảo vệ quyền lợi cho người dân. Dần dần, bà con hiểu rằng phía sau mình luôn có bộ đội đứng ra hỗ trợ. Không chỉ giúp dân làm ăn, bộ đội còn đồng hành trong những vấn đề của cuộc sống. Từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ, họ đều tìm đến bộ đội như một chỗ dựa quen thuộc.

Giúp dân hiểu, làm dân tin

Trong lòng đầy phấn khởi với sự “thay da đổi thịt” của các bản Mông, chúng tôi lại lên xã biên giới Tuy Đức (tỉnh Lâm Đồng), nơi Đội sản xuất 1, Trung đoàn 726 đứng chân. Đội quản lý diện tích 218ha đất, với 6 công nhân và 64 hộ nhận khoán. Trung tá Trần Văn Đạt, Đội trưởng Đội sản xuất 1, quê ở Ninh Bình, đã có 26 năm gắn bó với đồng bào M'nông, chứng kiến biết bao sự đổi thay của vùng đất này nên có rất nhiều kỷ niệm nhớ mãi.

Anh kể câu chuyện “cây đa đền voi” từ những ngày Trung đoàn 726 mới thành lập. Ngày ấy, đơn vị cưa một cây đa mọc tự nhiên ở đồi để phục vụ sản xuất, bà con M'nông đã đến trụ sở của Đội để bắt đền cây đa, đòi phạt một con voi. Sau nhiều lần đồng chí giải thích, thương lượng, nhờ đến cả già làng, trưởng thôn, “mức phạt” giảm dần xuống còn một con heo, rồi sau đó là một con gà. Câu chuyện ấy giờ đây trở thành một kỷ niệm vui, nhưng cũng cho thấy hành trình gian nan để nâng cao nhận thức cho đồng bào.

Từ những hiểu lầm ban đầu, bằng sự chân thành và trách nhiệm, những người lính của Trung đoàn 726 đã dần trở thành chỗ dựa tin cậy, được bà con yêu quý, coi như người thân trong gia đình. Và chính từ sự gắn bó ấy, vùng đất biên giới hôm nay đang từng ngày khởi sắc. Những năm gần đây, giá cà phê tăng cao, nhiều hộ có thu nhập hàng trăm triệu đồng, thậm chí có hộ thu nhập 1,5-2 tỷ đồng mỗi năm. Khi đời sống người dân được nâng lên, các nguy cơ cũng dần giảm đi, nhưng cán bộ, chiến sĩ đơn vị không chủ quan, lơ là, mà thường xuyên phối hợp với chính quyền địa phương, lực lượng công an, biên phòng, phát huy vai trò của lực lượng tự vệ tại chỗ để nắm tình hình, xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh.

 Trung đoàn 719, Binh đoàn 16 trao tặng bò giống giúp các hộ dân tộc thiểu số phát triển kinh tế.

Chúng tôi đến thôn 5, xã Đak Nhau (tỉnh Đồng Nai), nơi có hơn 200 hộ dân và nhiều đồng bào dân tộc thiểu số khó khăn, đời sống trước đây phụ thuộc chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, tập quán canh tác lạc hậu. Giờ thì đã khác xưa lắm! Kinh tế của các hộ gia đình trong thôn đều khấm khá và dành tình cảm yêu quý, biết ơn bộ đội Binh đoàn 16.

Người dân nơi đây dành tình cảm đặc biệt đối với Trung tá Trịnh Khắc Trung, Đội trưởng Đội sản xuất 2, Trung đoàn 719 (Binh đoàn 16). Có được niềm tin yêu ấy, Trung tá Trịnh Khắc Trung đã bền bỉ nhiều năm “3 cùng” (cùng ăn, cùng ở, cùng làm) với đồng bào trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc, thôn, bản bình yên. Mỗi ngày, anh Trung cùng cán bộ, đảng viên địa phương tham gia sản xuất cùng bà con.

Mỗi lần xuống cơ sở, anh đều mang theo cuốn sổ ghi chép cụ thể hoàn cảnh từng hộ, những vấn đề nảy sinh, khó khăn về kinh tế, đời sống, cũng như các dấu hiệu liên quan đến an ninh địa bàn. Từ những thông tin “tại chỗ”, trong những buổi tham gia sinh hoạt với Chi bộ thôn, anh Trung tham mưu kịp thời cho cấp ủy, Chi bộ thôn 5 phối hợp giúp dân ứng dụng khoa học kỹ thuật nâng cao sản xuất gắn với tuyên truyền pháp luật, vận động bà con giữ gìn an ninh, trật tự, không nghe theo các luận điệu kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo dựng niềm tin vững chắc trong lòng đồng bào. Đây là “lá chắn mềm” trong xây dựng "thế trận lòng dân", giữ gìn an ninh, trật tự từ sớm, từ xa tại các thôn, bản vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

 Thượng tá Đoàn Mạnh Nghĩa, Chính ủy Trung đoàn 720 chia sẻ: Kinh nghiệm để hiểu dân, giúp dân thiết thực là cán bộ đơn vị luôn “4 cùng” (cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng dân tộc) với người dân, coi bà con như người một nhà. Cán bộ biết tiếng dân tộc, hiểu phong tục, tập quán, từ đó tạo dựng mối quan hệ gần gũi, bền chặt sẽ giúp công tác dân vận, tuyên truyền, phổ biến kiến thức đạt hiệu quả cao. Khi người dân hiểu, dân tin, mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đều thuận lợi đi vào cuộc sống.

(còn nữa)