Mở không gian phát triển hướng biển
Không gian phát triển mới tạo cho TP Hồ Chí Minh hình thành cấu trúc kinh tế toàn diện, trong đó, lợi thế phát triển hướng biển đến từ hệ thống gần 90 cảng biển. Lượng hàng hóa thông qua cảng biển của thành phố năm 2025 đạt gần 352 triệu tấn. Riêng trong 8 tháng năm 2026, tổng lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển thành phố đạt hơn 256 triệu tấn, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 2025.
Cửa ngõ xuất nhập khẩu qua cảng biển quan trọng bậc nhất của TP Hồ Chí Minh nằm ở cụm cảng Cái Mép-Thị Vải (thuộc phường Tân Phước và phường Phú Mỹ) với hơn 30 bến cảng đang hoạt động đa lĩnh vực, từ cảng container (chiếm khoảng 30% sản lượng container cả nước) đến cảng tổng hợp, hàng rời, cảng chuyên dụng... Hằng tuần, cụm cảng duy trì 48 tuyến dịch vụ quốc tế, trong đó có hơn 20 tuyến tàu đi thẳng đến châu Âu và châu Mỹ, tạo thế mạnh về khai thác cảng nước sâu, tham gia sâu hơn vào mạng lưới hàng hải toàn cầu.
Trong cụm cảng Cái Mép-Thị Vải, Cảng quốc tế Gemalink thuộc tốp 19 cảng nước sâu hàng đầu thế giới, có khả năng tiếp nhận tàu container đạt trọng tải lên đến 250.000DWT. Là cảng xanh và thông minh, sau 5 năm vận hành, Cảng quốc tế Gemalink đạt tổng sản lượng 6,5 triệu TEU.
 |
|
Hoạt động xếp dỡ hàng hóa tại Tân Cảng - Cát Lái, phường Cát Lái, TP Hồ Chí Minh. Ảnh: QUỐC KHÁNH
|
Theo ông Cao Hồng Phong, Phó tổng giám đốc Cảng quốc tế Gemalink, hiện cảng tiếp tục nâng cao năng lực cầu bến, đồng bộ thiết bị, ứng dụng công nghệ và chuẩn bị nguồn lực sẵn sàng đón lượng hàng trung chuyển trong giai đoạn 2026-2030, tạo nền tảng thu hút các hãng tàu lớn, qua đó góp phần nâng tầm vị thế của TP Hồ Chí Minh trên các tuyến hàng hải quốc tế. Với công suất khai thác tốt trong những tháng đầu năm 2026, dự kiến cuối năm, cảng sẽ đạt sản lượng khoảng 2,1 triệu TEU.
Năng lực hệ thống cảng biển của TP Hồ Chí Minh đang tiếp tục được mở rộng, bổ sung bằng những dự án mới: Cảng quốc tế QTM (phường Phú Mỹ) có tổng vốn đầu tư gần 6.900 tỷ đồng; Cảng tổng hợp, container Cái Mép Hạ với vốn đầu tư hơn 50.800 tỷ đồng; Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ có tổng vốn đầu tư khoảng 5 tỷ USD...
Theo ông Nguyễn Lê Chơn Tâm, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Cảng Sài Gòn (đại diện liên danh tổ hợp nhà đầu tư Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ), vị trí cảng nằm gần các tuyến hàng hải quốc tế, kết nối với cụm cảng Cái Mép-Thị Vải. Khi được triển khai đồng bộ với hạ tầng kết nối và dịch vụ hậu cần, Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ sẽ thu hút lượng hàng trung chuyển qua các cảng nước ngoài, mở ra không gian phát triển mới cho kinh tế biển Việt Nam nói chung, TP Hồ Chí Minh nói riêng.
Thúc đẩy chuỗi động lực tăng trưởng mới
Để phát huy lợi thế hệ thống cảng biển, TP Hồ Chí Minh không chỉ tái cấu trúc không gian phát triển, phát triển cảng thông minh, cảng xanh, mà còn tham gia xây dựng các chuẩn mực mới về phát thải, năng lượng sạch và chuỗi cung ứng bền vững nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của thị trường quốc tế. Bài toán phát triển đặt ra đối với thành phố là tổ chức hệ sinh thái liên hoàn, trong đó, cảng biển phải gắn với khu công nghiệp, trung tâm logistics, khu thương mại tự do, mạng lưới giao thông đa phương thức và trung tâm tài chính quốc tế.
Theo đồng chí Phạm Bình An, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP Hồ Chí Minh, thành phố đang mở rộng không gian đô thị theo mô hình siêu đô thị đa trung tâm, trong đó các cực về công nghiệp, logistics, dịch vụ phải được kết nối thành chuỗi giá trị liên hoàn. Nhóm dự án cảng biển, logistics được xác định tạo những mắt xích trong chuỗi liên vùng, kết nối trực tiếp với cụm cảng Cái Mép-Thị Vải và hệ thống giao thông Đông Nam Bộ. Qua đó, thành phố có thêm những lực đẩy tăng trưởng trong giai đoạn mới.
Ở góc độ này, đồng chí Bùi Tá Hoàng Vũ, Giám đốc Sở Công Thương TP Hồ Chí Minh cũng nhận định rằng, sự kết hợp giữa cụm cảng Cái Mép-Thị Vải, Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ, Khu thương mại tự do Cái Mép Hạ, Cảng hàng không quốc tế Long Thành và mạng lưới khu công nghiệp trong thời gian tới sẽ hình thành hành lang kinh tế đối ngoại có quy mô lớn cho TP Hồ Chí Minh. Thành phố sẽ đóng vai trò hạt nhân kết nối vùng Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và thị trường quốc tế.
Trong chương trình hành động của Thành ủy TP Hồ Chí Minh triển khai thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 19-5-2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TP Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới, đã xác định phát triển kinh tế biển trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng theo hướng đa ngành, hiện đại, xanh và bền vững. Thành phố tiếp tục phát huy hiệu quả lợi thế cảng biển, logistics, dịch vụ hàng hải quốc tế, năng lượng, du lịch biển và các ngành kinh tế biển có giá trị gia tăng cao. Để tạo đột phá trong thu hút đầu tư cho các dự án về logistics, cảng biển, thành phố đã và đang áp dụng Nghị quyết số 260/2025/QH15 (sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 98/2023/QH15) của Quốc hội, có hiệu lực thi hành từ ngày 12-12-2025 về cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP Hồ Chí Minh.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP Hồ Chí Minh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 đã xác định 3 lĩnh vực trọng tâm của kinh tế biển gồm: Kinh tế hàng hải và logistics; dầu khí-năng lượng-năng lượng tái tạo; du lịch và đô thị biển. Riêng kế hoạch hành động thực hiện chiến lược xuất nhập khẩu giai đoạn 2026-2030 của thành phố đặt mục tiêu doanh thu dịch vụ logistics tăng bình quân 13-16%/năm, đóng góp 8-10% tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), nâng tỷ lệ hàng hóa xuất khẩu trực tiếp qua hệ thống cảng biển, cảng hàng không, ga đường sắt và cảng cạn lên hơn 80%.
TP Hồ Chí Minh đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026 đạt hai con số. Vấn đề quyết định hiện nay là biến lợi thế của thành phố thành dự án, sản phẩm và tốc độ tăng trưởng cụ thể. Cảng biển và logistics cần trở thành ngành dịch vụ nền tảng, có khả năng lan tỏa tới công nghiệp, xuất nhập khẩu, thương mại, du lịch, tài chính và khoa học-công nghệ. Khi các nghị quyết của Trung ương, cơ chế đặc thù được triển khai đồng bộ cùng với quyết tâm hành động của toàn thành phố, hệ thống cảng biển chắc chắn là động lực mạnh mẽ để thành phố giữ vững vai trò đầu tàu, trung tâm liên kết vùng, hoàn thiện những điều kiện cần và đủ cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế.