Không thể tăng trưởng nhanh lâu dài bằng những động lực cũ

Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất quan trọng về tăng trưởng, quy mô nền kinh tế, thu nhập và vị thế quốc gia. Những kết quả đó có sự đóng góp lớn của quá trình huy động vốn đầu tư, khai thác lợi thế lao động, đất đai, tài nguyên, mở rộng thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Nhưng những động lực ấy đang dần tới giới hạn.

Tài nguyên thiên nhiên là hữu hạn. Đất đai không thể mở rộng mãi. Lợi thế lao động giá rẻ giảm dần. Tăng vốn đầu tư nếu không gắn với nâng cao hiệu quả sẽ làm tăng chi phí của nền kinh tế. Trong khi đó, cạnh tranh quốc tế ngày càng chuyển từ lợi thế chi phí sang lợi thế về công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao và năng lực quản trị. Vì vậy, bước chuyển mà Trung ương đặt ra trước hết là đổi cách tạo ra tăng trưởng. Nếu tăng trưởng trước đây có thể dựa nhiều vào tăng vốn, tăng lao động và mở rộng quy mô sản xuất, thì giai đoạn tới phải làm cho mỗi đồng vốn, mỗi giờ lao động và mỗi đơn vị tài nguyên tạo ra giá trị lớn hơn.

 Hoạt động sản xuất tại Nhà máy Z183 (Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng). Ảnh: MẠNH HƯNG

Nói cách khác, phải chuyển từ tăng trưởng bằng mở rộng đầu vào sang tăng trưởng bằng nâng cao năng suất và giá trị gia tăng. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định nếu Việt Nam muốn duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian dài. Tăng trưởng hai chữ số không thể chỉ đạt được bằng việc “bơm” thêm nguồn lực. Muốn tăng nhanh mà vẫn giữ ổn định vĩ mô, hiệu quả và bền vững, động lực chính phải đến từ năng suất. Do đó, thước đo quan trọng của mô hình mới không chỉ là GDP tăng bao nhiêu, mà còn phải trả lời được: Năng suất lao động tăng thế nào, hàm lượng công nghệ trong sản phẩm ra sao, doanh nghiệp Việt Nam chiếm được bao nhiêu giá trị trong chuỗi sản xuất và năng lực tự chủ của nền kinh tế được nâng lên đến mức nào.

Đưa khoa học - công nghệ vào trung tâm của nền sản xuất

Muốn nâng cao năng suất, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo phải thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Điều này đòi hỏi phải thay đổi cách nhìn về khoa học - công nghệ. Thành công không thể chỉ được đo bằng số đề tài nghiên cứu, số bằng sáng chế hay số tiền đầu tư cho phòng thí nghiệm, mà phải được đo bằng sản phẩm mới, năng suất cao hơn, doanh nghiệp mạnh hơn và năng lực công nghệ quốc gia được nâng lên. Nghị quyết số 57-NQ/TW đã xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu. Vấn đề còn lại là biến chủ trương đó thành năng lực sản xuất thực tế. Trước hết, doanh nghiệp phải thực sự trở thành trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Nếu doanh nghiệp vẫn chủ yếu cạnh tranh bằng giá nhân công thấp, gia công và lắp ráp thì nền kinh tế khó tạo được bước nhảy về năng suất. Vì vậy, cần tạo động lực mạnh hơn để doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, công nghệ số và đổi mới quản trị. Cùng với đó phải phá bỏ khoảng cách giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp.

Một kết quả nghiên cứu chỉ thực sự có giá trị kinh tế khi đi vào dây chuyền sản xuất, trở thành hàng hóa và tạo ra giá trị gia tăng. Muốn vậy, cần cơ chế thông thoáng hơn về tài chính nghiên cứu, sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa sản phẩm khoa học. Chính sách thu hút FDI cũng phải thay đổi theo hướng coi trọng chất lượng hơn số lượng. Không thể chỉ nhìn vào tổng vốn đăng ký hay kim ngạch xuất khẩu. Điều quan trọng hơn là doanh nghiệp trong nước học được gì, công nghệ nào được chuyển giao, bao nhiêu doanh nghiệp Việt Nam tham gia được vào chuỗi cung ứng và tỷ lệ giá trị gia tăng giữ lại trong nước là bao nhiêu. Mục tiêu phải là từng bước chuyển từ “sản xuất tại Việt Nam” sang “nghiên cứu, thiết kế và sáng tạo tại Việt Nam”. Đó mới là con đường thoát khỏi vị trí gia công và tiến lên những nấc thang giá trị cao hơn.