Thời cơ bứt phá

Đến hết năm 2025, cả nước có 263 nghề truyền thống và 1.975 làng nghề được công nhận. Hơn 2,1 triệu lao động nông thôn đang tham gia sản xuất tại các làng nghề, với thu nhập bình quân khoảng 4-5 triệu đồng/tháng. Nhóm hàng thủ công mỹ nghệ hiện chiếm khoảng 35% tổng kim ngạch xuất khẩu của khu vực ngành nghề nông thôn, mang về 1,5-2 tỷ USD mỗi năm và đã có mặt tại 163 quốc gia, vùng lãnh thổ. Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào cuối năm 2025 đã xác định thủ công mỹ nghệ là một trong 10 ngành công nghiệp văn hóa. Đây là dấu mốc thể hiện sự chuyển dịch từ tư duy bảo tồn sang phát triển dựa trên thiết kế sáng tạo và gia tăng giá trị sản phẩm.

Nhiều bạn trẻ tìm hiểu về sản phẩm thủ công truyền thống tại sự kiện chợ phiên kết duyên sáng tạo, tháng 6-2026. 

Trong bức tranh chung, Hà Nội tiếp tục giữ vai trò đầu tàu. Thủ đô hiện có hơn 1.350 làng nghề, trong đó 327 làng nghề đã được công nhận. Đáng chú ý, gốm sứ Bát Tràng và lụa Vạn Phúc đã trở thành thành viên của Mạng lưới các thành phố thủ công sáng tạo thế giới, góp phần nâng cao vị thế thủ công mỹ nghệ Việt Nam trên trường quốc tế.

Từ nền tảng nguồn lực, chính sách và thị trường, ngành thủ công mỹ nghệ được giới chuyên gia dự báo đang đứng trước nhiều cơ hội bứt phá. Các hiệp định thương mại tự do như Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), một hiệp định thương mại tự do thế hệ mới cùng xu hướng tiêu dùng bền vững toàn cầu đang mở rộng dư địa cho sản phẩm thủ công Việt Nam. Mỹ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất, chiếm khoảng 35% tổng kim ngạch, tiếp theo là Nhật Bản và châu Âu.

Thực tiễn cho thấy, khi sản phẩm được xây dựng thương hiệu gắn với địa phương, kết hợp thiết kế đương đại và khai thác hiệu quả câu chuyện văn hóa đặc trưng, giá trị thương mại có thể gia tăng nhiều lần. Bà Hà Thị Vinh, Chủ tịch Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ và Làng nghề Hà Nội nhận định: “Thị trường quốc tế vẫn còn nhiều dư địa cho hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam phát triển, song để đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu, cần xây dựng các mô hình điển hình tại các vùng làng nghề, đặc biệt với những ngành hàng có tiềm năng xuất khẩu lớn”.

Điểm nghẽn năng lực cạnh tranh

Dù cơ hội và chính sách hỗ trợ đã có, để biến những lợi thế này thành sức cạnh tranh thực sự, yếu tố quyết định vẫn nằm ở năng lực tận dụng cơ hội của doanh nghiệp và các làng nghề. Những năm gần đây, hệ thống chính sách hỗ trợ ngành được triển khai khá đồng bộ từ Trung ương đến địa phương. Quyết định số 801/QĐ-TTg ngày 7-7-2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam giai đoạn 2021-2030 đặt mục tiêu khôi phục hơn 100 nghề có nguy cơ mai một, phát triển 208 làng nghề, nâng tỷ lệ làng nghề truyền thống hoạt động hiệu quả lên hơn 80%.

Tại Hà Nội, phát triển làng nghề được thúc đẩy thông qua Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP), gắn phát triển làng nghề với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới. Trọng tâm là nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu, ứng dụng công nghệ, phát triển thương mại điện tử và gắn làng nghề với du lịch trải nghiệm. Các hội chợ, triển lãm và hoạt động kết nối sáng tạo đang góp phần đưa sản phẩm làng nghề đến gần hơn với thị trường trong nước và quốc tế.

Tiêu biểu là Lễ hội Thiết kế sáng tạo Hà Nội 2026, chuỗi sự kiện diễn ra xuyên suốt trong năm, đưa sản phẩm thủ công mỹ nghệ vào mối liên kết giữa thiết kế đương đại và thương mại, đồng thời hình thành các không gian giao thương dành cho sản phẩm truyền thống. Các hoạt động như làng nghề tái sinh, chợ phiên kết duyên sáng tạo... tạo điều kiện để nghệ nhân, nhà thiết kế và doanh nghiệp cùng phát triển những sản phẩm mới từ chất liệu truyền thống.

Tuy nhiên, chính sách hỗ trợ và hoạt động xúc tiến chỉ tạo ra điều kiện ban đầu. Năng lực cạnh tranh thực sự của doanh nghiệp và làng nghề mới là yếu tố quyết định khả năng tận dụng các cơ hội từ hội nhập. Theo ông Nguyễn Văn Hội, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương, các FTA thế hệ mới không chỉ mở rộng cơ hội thương mại mà còn đặt ra những tiêu chuẩn cao hơn về môi trường, lao động và tính minh bạch. Vì vậy, doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy sản xuất sang tư duy thị trường và tăng cường liên kết để hình thành các chuỗi cung ứng đủ sức cạnh tranh.

Đây cũng là khoảng trống lớn của ngành hiện nay. Nhiều sản phẩm vẫn chậm đổi mới về thiết kế, công năng và nhận diện thương hiệu, trong khi giá trị văn hóa chưa được chuyển hóa thành lợi thế cạnh tranh. Công nghệ sản xuất, truy xuất nguồn gốc, chuỗi cung ứng nguyên liệu và hệ thống logistics còn hạn chế. Trong bối cảnh Liên minh châu Âu và Mỹ siết chặt tiêu chuẩn về môi trường, trách nhiệm xã hội và giảm phát thải, quy mô sản xuất nhỏ lẻ khiến nhiều cơ sở khó đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Bên cạnh đó, việc quảng bá thương hiệu quốc gia cũng chưa có chiến lược dài hạn và đồng bộ.

Hoàn thiện hệ sinh thái phát triển

Để các làng nghề thủ công mỹ nghệ thực sự bứt phá, điều quan trọng là xây dựng một hệ sinh thái phát triển đồng bộ. Trước hết, Nhà nước cần đóng vai trò "bà đỡ" thông qua việc xây dựng các mô hình làng nghề đạt chuẩn xuất khẩu. Việc hỗ trợ mặt bằng, trang thiết bị và đội ngũ tư vấn sẽ tạo ra những hạt nhân có khả năng lan tỏa kinh nghiệm và chuẩn sản xuất đến các cơ sở khác.

Cùng với đó, cần tổ chức nhiều hội chợ quốc tế ngay tại Việt Nam với không gian trưng bày đạt chuẩn, giúp doanh nghiệp tiếp cận trực tiếp nhà nhập khẩu, giảm chi phí và mở rộng cơ hội ký kết hợp đồng. Cần hình thành chuỗi liên kết bền vững giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng làng nghề thông qua phát triển các vùng nguyên liệu chuyên canh, gắn với hợp đồng liên kết dài hạn tại những địa phương có lợi thế như Thanh Hóa, Nghệ An (tre, luồng), Đắk Lắk (mây), Lâm Đồng, Ninh Bình (tơ lụa), Vĩnh Long (dừa), Quảng Ninh (đất sét) hay Đà Nẵng, Ninh Bình (đá mỹ nghệ). Khi nguyên liệu được sơ chế tại chỗ và kiểm soát chất lượng theo chuỗi, các làng nghề sẽ giảm phụ thuộc vào thương lái, ổn định nguồn cung và nâng cao khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường.

Sản phẩm thủ công truyền thống được giới thiệu tại sự kiện chợ phiên kết duyên sáng tạo, tháng 6-2026. 

Bên cạnh hạ tầng và chuỗi cung ứng, đầu tư cho con người và đổi mới sáng tạo cũng là mắt xích không thể thiếu. Cần mở rộng các trung tâm thiết kế đổi mới sáng tạo, tăng cường kết nối nghệ nhân với chuyên gia trong và ngoài nước; đồng thời phát triển nền tảng thương mại điện tử chuyên biệt, đẩy mạnh số hóa tri thức nghề, đào tạo kỹ năng số cho thế hệ trẻ và hoàn thiện cơ chế bảo vệ sở hữu trí tuệ, chỉ dẫn địa lý, đăng ký thương hiệu. Khi kết hợp với du lịch trải nghiệm làng nghề, sản phẩm thủ công không chỉ được bán như một món hàng mà còn trở thành một trải nghiệm văn hóa, qua đó gia tăng giá trị thương hiệu.

Từ thực tiễn phát triển của Hà Nội, bà Hà Thị Vinh cho biết thành phố đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ như xúc tiến thương mại, đào tạo nghề và tổ chức các cuộc thi sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Việc xúc tiến thương mại giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đưa sản phẩm đến gần hơn với thị trường. Bà Vinh cũng kỳ vọng các trung tâm triển lãm quy mô lớn sẽ tạo thêm không gian quảng bá chuyên nghiệp, giúp hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam tiếp cận hiệu quả hơn với khách hàng quốc tế.

Để mở rộng thị trường một cách bền vững, doanh nghiệp không chỉ cần được hỗ trợ kinh phí tham gia các hội chợ quốc tế mà cần được đồng hành về chiến lược, kỹ năng và phương thức tiếp cận thị trường. Khi cơ chế, chuỗi liên kết và hệ thống hỗ trợ được hoàn thiện, thủ công mỹ nghệ sẽ có điều kiện bứt phá mạnh mẽ hơn. Khi đó, mỗi sản phẩm không chỉ tạo ra giá trị kinh tế mà còn trở thành “đại sứ” quảng bá hình ảnh Việt Nam sáng tạo, giàu bản sắc, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia.