Nửa cuối năm 2026 sẽ không chỉ là câu chuyện giữ nhịp tăng trưởng của những địa phương đang dẫn đầu mà còn là quá trình tìm kiếm năng lực mới, dự án mới và dư địa mới ở từng tỉnh, thành phố.
Những cực tăng trưởng mới
Trong quý II-2026, có 10/34 tỉnh, thành phố đạt mức tăng GRDP trên 10%. Hà Tĩnh dẫn đầu với 12,88%, tiếp đến là Quảng Ninh 11,83%, Thái Nguyên 11,3%, Hải Phòng 11,24% và Bắc Ninh 11,14%. Phú Thọ, Ninh Bình, Hưng Yên, Tây Ninh và An Giang cũng ghi nhận mức tăng hơn 10%. Tính chung 6 tháng, 9 địa phương tăng trưởng hơn 10%, trong đó Hà Tĩnh tiếp tục dẫn đầu với 12,79%; Ninh Bình 11,44%; Hải Phòng 11,33%; Quảng Ninh 11,11%; Hưng Yên 10,72%; Bắc Ninh 10,56%; Phú Thọ 10,18%; Tây Ninh 10,12% và Thái Nguyên 10,01%.
Theo bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê, Bộ Tài chính, kết quả tăng trưởng giữa các địa phương có sự phân hóa rõ rệt. Nhóm địa phương có tốc độ tăng trưởng cao tập trung ở những nơi có thế mạnh về công nghiệp chế biến, chế tạo, xuất khẩu và du lịch. Ngược lại, 4 địa phương có tốc độ tăng trưởng thấp chủ yếu phụ thuộc vào hoạt động nông nghiệp, chưa có các khu công nghiệp và dự án quy mô lớn, đồng thời gặp khó khăn do thời tiết, chi phí đầu vào và thị trường tiêu thụ.
 |
| Dự án cầu Trần Hưng Đạo là công trình giao thông trọng điểm của Hà Nội. Ảnh: PHẠM HƯNG |
Tuy nhiên, điều đáng chú ý không chỉ là địa phương nào tăng nhanh hơn, mà là đang tăng trưởng bằng động lực nào. Trong 6 tháng đầu năm, có tới 24/34 địa phương ghi nhận khu vực công nghiệp và xây dựng tăng hơn 10%, trong đó tại Hà Tĩnh tăng 24,25%, Lai Châu 17,07%, An Giang 16,8%, Ninh Bình 16,52% và Cao Bằng 15,56%. Đồng thời, tăng trưởng công nghiệp tại nhiều địa phương không chỉ đến từ sự phục hồi của các cơ sở sản xuất hiện hữu mà còn gắn với việc đưa các dự án mới vào hoạt động và mở rộng năng lực sản xuất. Hà Tĩnh là một ví dụ điển hình. Động lực tăng trưởng đến từ các dự án như Nhà máy xe máy điện VinFast, việc sửa chữa và hoàn thiện Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II và đầu tư hạ tầng Khu công nghiệp Vinhomes Vũng Áng. Tại Hưng Yên, các khu công nghiệp Thăng Long II, Phố Nối A, Yên Mỹ cùng các dự án sản xuất mới đang tạo thêm năng lực cho công nghiệp chế biến, chế tạo. Tây Ninh hưởng lợi từ các dự án sản xuất, dệt nhuộm. Thái Nguyên có thêm động lực từ các dự án sản xuất và chăn nuôi công nghệ cao... Những trường hợp này cho thấy chất lượng hạ tầng, môi trường đầu tư và khả năng triển khai dự án đang có ý nghĩa ngày càng lớn đối với năng lực tăng trưởng của từng địa phương. Khi một dự án quy mô lớn đi vào hoạt động, hiệu ứng lan tỏa không chỉ nằm ở giá trị sản xuất trực tiếp mà còn có thể mở rộng sang vận tải, logistics, thương mại, dịch vụ, xây dựng, lưu trú và nhiều ngành kinh tế khác.
Thời gian qua, khu vực dịch vụ cũng đang tạo thêm một trụ cột tăng trưởng mới. Trong 6 tháng đầu năm, có 7 địa phương tăng khu vực dịch vụ hơn 9%, trong đó tại Quảng Ninh tăng tới 14,27%, Hải Phòng 10,24%, Ninh Bình 9,8%, An Giang 9,5%, Đà Nẵng và Khánh Hòa cùng 9,3%, Lâm Đồng 9,2%. Sự phục hồi của du lịch, thương mại, vận tải và các hoạt động dịch vụ đang giúp những địa phương có lợi thế về du lịch, kinh tế biển và dịch vụ đô thị có thêm dư địa tăng trưởng, qua đó làm cho cấu trúc động lực của nền kinh tế ngày càng đa dạng hơn.
Cùng với tốc độ tăng trưởng, quy mô đóng góp vào tăng trưởng GDP cả nước là một chỉ báo quan trọng để nhận diện các động lực của nền kinh tế. Số liệu 6 tháng đầu năm cho thấy TP Hồ Chí Minh và Hà Nội tiếp tục giữ vai trò đầu tàu về quy mô, với tỷ lệ đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng GDP cả nước, lần lượt là 21,9% và 11,71%; trong khi Hải Phòng, Bắc Ninh, Đồng Nai cùng nhiều địa phương công nghiệp đang nổi lên như những cực tăng trưởng quan trọng. Ở chiều khác, Quảng Ninh, Ninh Bình, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Lâm Đồng, An Giang... đang bổ sung động lực từ dịch vụ, du lịch và kinh tế biển. Như vậy, các trung tâm lớn tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt về quy mô; các địa phương công nghiệp tạo lực kéo từ đầu tư, sản xuất và xuất khẩu; trong khi những địa phương có lợi thế về dịch vụ, du lịch và kinh tế biển bổ sung động lực từ sự phục hồi của các hoạt động dịch vụ. Sự đa dạng về động lực đang tạo thêm nhiều điểm tựa cho tăng trưởng của nền kinh tế.
Khơi thông nguồn lực
Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2026 từ 10% trở lên. Theo kịch bản điều hành, để đạt mục tiêu này, tăng trưởng 6 tháng cuối năm phải đạt khoảng 11,9%-một mức rất cao, đòi hỏi nền kinh tế phải tăng tốc mạnh so với nửa đầu năm. Sức ép tăng trưởng không chỉ đặt lên nền kinh tế ở cấp quốc gia mà còn được cụ thể hóa tới từng địa phương. Ngày 27-6, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 169/NQ-CP, giao mục tiêu tăng trưởng năm 2026 và giai đoạn 2026-2030 cho các tỉnh, thành phố. Trong đó, 12 địa phương được giao mục tiêu GRDP từ 11% trở lên. Hải Phòng và Quảng Ninh dẫn đầu với mức 13%, tiếp đến là Bắc Ninh 12,5%, Hưng Yên 11,5%, Đà Nẵng 11,22%...
Để đạt được mục tiêu này, với những nơi đã đạt hoặc vượt kịch bản, Chính phủ yêu cầu tiếp tục phấn đấu để đạt mức cao hơn. Ngược lại, các địa phương tăng trưởng thấp hơn kịch bản hoặc dưới mức bình quân cả nước phải khẩn trương rà soát nguyên nhân, cập nhật kịch bản và đưa ra các giải pháp đột phá, khả thi. Đặc biệt, Chính phủ yêu cầu nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, xử lý các dự án tồn đọng về đất đai, quy hoạch, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công và tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Theo các chuyên gia, trong cuộc đua tăng trưởng hai con số, một trong những dư địa lớn nhất của các địa phương không chỉ nằm ở việc tìm thêm nguồn lực, mà ở khả năng giải phóng những nguồn lực đang bị mắc kẹt bởi thể chế và thủ tục. Nếu trước đây, câu chuyện về tăng trưởng thường bắt đầu từ yêu cầu tháo gỡ “điểm nghẽn thể chế” thì trong giai đoạn hiện nay, trọng tâm đang dần chuyển sang một vấn đề khác: Khả năng tổ chức thực thi.
Nêu rõ điều này, GS, TS Hoàng Văn Cường, Phó chủ tịch Hội đồng Giáo sư Nhà nước, Phó chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Hà Nội, cho biết hiện nay, tư duy xây dựng pháp luật đã có sự thay đổi theo hướng cởi mở hơn, tăng tính chủ động cho cơ quan thực thi và kịp thời tháo gỡ những quy định chồng chéo, bất cập. Tuy nhiên, thể chế có thông thoáng đến đâu mà bộ máy thực thi không theo kịp thì chính sách vẫn khó đi vào cuộc sống. Vì vậy, sau tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, yêu cầu đặt ra hiện nay là nâng cao chất lượng và năng lực thực thi.
Cùng quan điểm, TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam nhấn mạnh: Chất lượng cán bộ không chỉ là năng lực chuyên môn mà còn là tư duy, thái độ và tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; chủ động tháo gỡ khó khăn, đồng hành với người dân, doanh nghiệp và đặt lợi ích chung lên trên hết. “Muốn vậy, bên cạnh nâng cao năng lực, phải có cơ chế bảo vệ người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung”-TS Lê Duy Bình bày tỏ.
Mỗi tỉnh, thành phố là một mắt xích trực tiếp trong cỗ máy tăng trưởng chung. Khi những nguồn lực đang bị mắc kẹt được khơi thông, các dự án được đẩy nhanh và lợi thế riêng của từng địa phương được phát huy hiệu quả hơn, các cực tăng trưởng sẽ không chỉ giúp duy trì đà tăng trong những tháng cuối năm mà còn có thể tạo thêm năng lực cho tăng trưởng trong những năm tiếp theo.